CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM GIAI ĐOẠN 1997-2022 1. Tổng quan về đô thị và đô thị hoá 1. Khái niệm “đô thị” Đô thị chỉ xuất hiện trong một giai đoạn nhất định trong lịch sử loài người, không mặc nhiên xuất hiện và tồn tại với con người khi bắt đầu có sự sống trên Trái Đất. Xét trong tương quan lịch sử loài người, theo chủ nghĩa Mác thì lịch sử loài người bắt đầu từ khi con người xuất hiện trên Trái Đất chứ không phải đợi khi có Nhà nước, có văn minh thì mới xuất hiện.
Trong con mắt của các nhà sử học, “đô thị” giống như cuộc cách mạng thứ hai trong lịch sử nhân loại sau cách mạng Đá mới. Nói “đô thị là sản phẩm của lịch sử” thì nó không chỉ xuất hiện trong giai đoạn nhất định chứ không chỉ xuất hiện ngay từ khi con người xuất hiện trên Trái Đất này. Đô thị xuất hiện rất sớm trong lịch sử nhân loại. Trong các nền văn hoá của phương Đông cổ đại (cách đây 5.000 năm) đã xuất hiện các đô thị ở lưu vực sông Nil, khu vực Lưỡng Hà; trong khu vực Đông Nam Á và mở rộng ra là cả vùng châu Á, có văn minh sông Ấn, văn minh Trung Quốc; các đô thị cổ ở các khu vực này là minh chứng cho các nền văn minh lâu đời nhất của nhân loại.
Trong lịch sử Việt Nam thì ta thấy đô thị xuất hiện muộn hơn, đô thị xuất hiện sớm nhất là vào khoảng 700 TCN. Trong quá trình hình thành và phát triển thì các đô thị cổ này không phải là một thực thể mà nó phát triển không sự bất biến, một sự thay đổi [88]. Quá trình hình thành và phát triển của các đô thị là một quá trình rất lâu dài, trải qua nhiều thay đổi khác nhau. Với mỗi giai đoạn lịch sử của nhân loại thì các đô thị đều có những đặc trưng rất riêng.
Thời kỳ đầu tiên thì chúng ta thấy đô thị mang tính chất rất sơ khai; với sự tác động của con người vào đô thị là không nhiều và nó chủ yếu phục vụ cho các lợi ích thống trị của các đô thị từ các chùa chiền, đền đài. đều thoả mãn nhu cầu của tầng lớp thống trị trong xã hội. Sang thời phong kiến thì diện mạo ở phương Đông và phương Tây có phần khác nhau. Đặc biệt ở các đô thị phương Đông khi mà các phố phường buôn bán các sản phẩm thì dạng thức chính là các đô thị theo phương hội hoặc thương hội buôn bán.
Đến thời cận đại thì các đô thị chuyển mình với sự xuất hiện của công nghiệp, các mối quan hệ giao lưu và trao đổi hàng hoá xuất hiện. Cũng trong giai đoạn này họ rất chú trọng đến hệ thống đường sá ở các đô thị cổ cho nên đô thị thời 8 kỳ này có rất nhiều trường phái đô thị, các dạng thức đô thị với sự tác động nhiều hơn của con người và môi trường nên cảnh quan đô thị mang tầm vĩ mô, đa dạng và mở rộng hơn so với các đô thị ở giai đoạn trước. Đồng thời trong các đô thị thời cận - hiện đại cũng đã chú ý đến vấn đề ánh sáng, cấp nước, rác thải; các công trình công cộng ở các đô thị được bố trí trọng yếu hơn so với các đô thị phong kiến hay tiền phong kiến. Đồng thời, trong lòng các đô thị đã tạo môi trường tốt cho sự phát triển của khoa học công nghệ, có nhiều loại hình sinh hoạt văn hoá tinh thần.
Đô thị thời kỳ này đã xuất hiện các trường học, các ngành khoa học cơ bản. Thời kỳ này ở đô thị đã chứng kiến sự chuyên môn hoá của các chức năng của đô thị do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, dẫn đến hình thành các đô thị chuyên môn hoá (đô thị chuyên khai thác than, đô thị chuyên khai thác khoáng sản, đô thị chuyên dệt, đô thị chuyện làm thuộc da, đô thị chuyên làm len dạ, đô thị nghỉ dưỡng.) trong thị trường đa dạng sẽ có những dạng thức đô thị như vậy. Xu hướng đô thị hoá diễn ra rất mạnh mẽ vào thời hiện đại. Giai đoạn này xuất hiện nhiều đô thị siêu khổng lồ; ở Việt Nam xuất hiện nhiều đô thị kiểu phương Tây được du nhập bởi Pháp với các cấu trúc kiến trúc xưa của Pháp.
Như vậy, đô thị là sản phẩm của lịch sử, sự phát triển của mỗi đô thị đều mang dấu ấn của từng giai đoạn lịch sử. Mỗi một đô thị có môt số phận khác nhau, có một không gian tồn tại lâu dài hoặc có đô thị tồn tại 1 - 2 thế kỷ thì bị tàn lụi. Trong quá trình tồn tại và phát triển như vậy thì thực thể đô thị có thể thay đổi kiểu dáng hoặc kiến trúc, quy hoạch, phân bố không gian, chức năng; những đô thị này dù có thay đổi đi chẳng nữa thì nó vẫn phản ánh những đặc trưng riêng biệt của từng thời kỳ lịch sử. Ở Việt Nam thì các đô thị bị chi phối bởi xu hướng nông thôn hoá trở lại, và nó trở thành quy luật có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các đô thị.
Đô thị là một thực thể mà bao hàm bên trong đó chứa đựng nhiều vấn đề của cuộc sống con người từ xưa đến nay, nên bản thân nó là một từ ngữ mang nhiều nghĩa khác nhau. Các quan niệm khác nhau cũng dẫn tới hình thành những tiêu chí khác nhau, nên khái niệm đô thị có quan hệ chặt chẽ với các tiêu chí xác định đô thị. Học giả Mumford trong quá trình nghiên cứu và giải thích nguồn gốc, chức năng của đô thị đã cho rằng, trước khi trở thành nơi cư trú, trước hết đô thị là nơi gặp gỡ mà con người đến hội tụ như chợ, điểm hành hương. Đó là nơi thiêng liêng mà các nhóm du mục trở về theo định kỳ, thực hiện các nghi thức cúng tế.
Một phần, đền thờ, nơi diễn ra các nghi thức tế lễ đã tồn tại trước khi xây dựng các nhà xưởng, vòng thành, chợ trung tâm. Georges-Hubert de Radkowski, trong công trình “L’homme de la Villa” cũng nhấn mạnh dù tiềm năng hay hiện thực, cư dân đô thị “ở” không phải là ở nữa mà là giao tiếp [24, tr. Theo những nhà quy hoạch đô thị Mỹ, đô thị là nơi tập trung dân cư với quy mô 9 lớn tại một khu vực địa dư cụ thể, trong đó người ta hỗ trợ nhau một cách thường xuyên và sòng phẳng thông qua các họat động kinh tế của khu vực đó. và là nơi có cơ hội để có được môi trường sống đa dạng và nhiều kiểu sống khác nhau.
Học giả Đức Richtofen thì cho rằng: “đô thị là một nhóm tập hợp những người có cuộc sống không dựa vào nông nghiệp mà trước hết dựa vào công nghiệp” và ông cũng cho rằng, “người dân đô thị phải dựa trên hoạt động sản xuất phi nông nghiệp và các nhu cầu sinh hoạt của họ chủ yếu do bên ngoài cung cấp” [48, tr. Xauskin, đô thị là một điểm quần cư có mật độ nhân khẩu cao và dân cư ở đây không có hoạt động nông nghiệp trực tiếp [48, tr. Dưới góc độ lịch sử, Karl Marx đã nhìn nhận đô thị như sau: “Lịch sử cổ đại cổ điển là lịch sử của các đô thị, nhưng các đô thị này được xây dựng trên cơ sở chiếm hữu ruộng đất và trên cơ sở nền kinh tế nông nghiệp, có nghĩa là sự thâm nhập của các quan hệ nông thôn vào thành thị. Lịch sử hiện đại là sự thâm nhập của các quan hệ thành thị vào nông thôn.Lịch sử châu Á là sự thống nhất không phân chia giữa thành thị và nông thôn” [18, tr.
Theo Từ điển bách khoa toàn thư của Liên Xô: “Đô thị là một khu dân cư rộng lớn, dân cư ở đây hoạt động chủ yếu trong các ngành công nghiệp, thương nghiệp cũng như trong lĩnh vực quản lý khoa học và văn hoá”. Nội hàm khái niệm này: khái niệm không chỉ giới hạn trong hoạt động công nghiệp mà còn có cả thương nghiệp, quản lý khoa học và văn hoá. Tuy nhiên, khái niệm này cũng chưa động đến những đặc trưng của đô thị như mỗi đô thị có một giá trị văn hoá khác nhau, di sản văn hoá khác nhau, có những đặc trưng riêng biệt về phong tục tập quán, đời sống tinh thần; nhưng định nghĩa này không được thoả mãn lắm, nhất là với trường hợp các đô thị cận hiện đại [88]. Liên Hiệp Quốc cho rằng các điểm dân cư có quy mô dân số trên 20.000 dân và trên 70% dân số phi nông nghiệp được coi là đô thị.
Trong định nghĩa này người ta đưa ra vấn đề dân số và có chỉ tiêu cụ thể và liên quan đến vấn đề nhà ở, nghiên cứu học thuật, khu vực buôn bán sản xuất; nhưng nếu áp vào thực tế thì rất khó thoả mãn tiêu chí này của Liên Hiệp Quốc [88]. Cục điều tra dân số Mỹ nhận định một khu vực đô thị là nơi có mật độ dân số lớn hơn 1.000 người/1 dặm vuông (386 người/km2). Họ căn cứ vào tác động của dân số (mật độ trên 1.000 người/dặm vuông) mà không tập trung vào tổng số dân hay tỷ lệ người dân làm trong các lĩnh vực kinh tế [88]. Cũng giống như ở nhiều nước trên thế giới, tại Việt Nam, giới học giả Việt Nam cũng đưa ra nhiều khái niệm, định nghĩa về đô thị.
Trong tiếng Việt, có nhiều từ để chỉ khái niệm đô thị như thành phố, thị trấn, thị xã,. Các từ đó đều có hai thành tố: đô thành, trấn, xã hàm nghĩa chức năng hành chính; thị, phố có nghĩa là chợ. Thời trước, chức năng hành chính lấn át chức năng kinh tế, bộ phận đảm nhận cai quản đô thị là do Nhà nước bổ nhiệm. Đô thị 10 phương Tây có ít tính chính trị hơn và thiên về chức năng kinh tế.
Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa, đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp. Còn trong Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, đô thị là nơi dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể có cả nông nghiệp, thành phố hoặc thị trấn.