phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -5- CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương một trình bày những lý luận cơ bản về chất lượng dịch vụ Logistics và sự hài lòng của khách hàng. Bên cạnh đó, chương này cũng trình bày các nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai yếu tố vừa nêu. DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ LOGISTICS 1.
Dịch vụ Logistics và các đặc điểm của dịch vụ Logistics 1. Khái niệm dịch vụ Với đặc trƣng của lĩnh vực dịch vụ là tính vô hình cùng với tính đa dạng, nên việc thống nhất một khái niệm về dịch vụ giữa các nhà nghiên cứu trở nên khó khăn và không thống nhất. Để thấy rõ điều này có thể tham khảo một vài khái niệm sau: Shahin (2006) cho rằng “dịch vụ là một hoạt động hay một loạt các hoạt động mang tính vô hình”. Theo Zeithaml & Bitner (2000) thì “dịch vụ là hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, nhằm làm hài lòng nhu cầu và mong đợi của khách hàng.” Philip Kotler & Amrstrong (1991) đƣa ra định nghĩa: “Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm trao đổi chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu.
Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất. Khái niệm dịch vụ Logistics Theo Christopher, M. (1998) thì “Logistics là quá trình của chiến lƣợc quản lý việc mua sắm, vận chuyển và lƣu kho nguyên vật liệu, bán thành phẩm hoặc thành phẩm (liên quan đến dòng chảy của thông tin thông qua cách tổ chức và kênh quảng cáo) nhƣ là một phƣơng thức tối đa hóa lợi nhuận hiện tại và tƣơng lai thông qua thực hiện hiệu quả chi phí của việc đặt hàng”. Theo Vitasek (2011): “Logistics đƣợc định nghĩa nhƣ là một phần của chuỗi cung ứng bao gồm kế hoạch, thực hiện, kiểm soát LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- các dòng lƣu chuyển, tồn trữ hàng hóa, dịch vụ và thông tin liên quan giữa điểm đầu và điểm cuối nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng tiêu thụ cuối cùng”.
Logistics là hệ thống chức năng quan trọng để tăng cƣờng hiệu quả cả trong dòng chảy hàng hóa, thông tin và đáp ứng các mục tiêu phân phối với chi phí thấp, nhanh chóng, giao hàng đáng tin cậy; có đóng góp các lợi ích giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả. Dịch vụ logistics theo quan niệm của Tổ chức thƣơng mại thế giới WTO gồm 3 loại: Dịch vụ logistics chủ yếu (core logistics service) là dịch vụ làm hàng, dịch vụ lƣu kho, dịch vụ đại lý vận tải và các dịch vụ hỗ trợ khác. Dịch vụ liên quan đến vận tải gồm có vận tải hàng hoá (đƣờng biển, đƣờng thuỷ nội địa, đƣờng hàng không, đƣờng sắt, đƣờng bộ và cho thuê phƣơng tiện không ngƣời vận hành) và các dịch vụ khác có liên quan đến dịch vụ logistics nhƣ dịch vụ phân tích và thử nghiệm kỹ thuật, dịch vụ chuyển phát, dịch vụ đại lý, dịch vụ bán buôn và bán lẻ. Dịch vụ logistics thứ yếu (non-core logistics service) gồm dịch vụ máy tính và liên quan đến máy tính, dịch vụ đóng gói và dịch vụ tƣ vấn quản lý.
Và Luật thƣơng mại Việt Nam sửa đổi (2005), tại điều 233 lần đầu tiên dịch vụ Logistics đƣợc luật hóa và bao hàm nhiều lĩnh vực chứ không giới hạn trong lĩnh vực giao nhận hàng hóa nhƣ trƣớc kia “Dịch vụ Logistics là hoạt động thƣơng mại, theo đó thƣơng nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lƣu kho, lƣu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tƣ vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận của khách hàng để hƣởng thù lao. Dịch vụ Logistics đƣợc phiên âm theo tiếng Việt là Lô-gi-stíc”. Khái niệm về dịch vụ logistics trong Luật Thƣơng mại nêu trên về cơ bản đã phản ánh đƣợc nội dung của dịch vụ logistics và đây cũng là cơ sở pháp lý để điều chỉnh hoạt động kinh doanh các dịch vụ logistics trên phạm vi toàn quốc cũng nhƣ phục vụ cho việc nghiên cứu, hoạch định chính sách đối với từng dịch vụ trong hệ thống LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- dịch vụ Logistics. Tuy nhiên, khái niệm này vẫn chƣa phản ánh đƣợc hoạt động dịch vụ Logistics trong thực tiễn một cách đầy đủ và chính xác.
Mặc dù có nhiều quan điểm khách nhau về Logistics và dịch vụ Logistics trên thế giới và tại Việt Nam nhƣng nhìn chúng ta có thể chia các khái niệm về dịch vụ Logistics thành hai nhóm cơ bản: Nhóm định nghĩa hẹp về khái niệm dịch vụ Logistics mà tiêu biểu là Luật thƣơng mại (2005) coi dịch vụ Logistics gần với các hoạt động giao nhận, vận tải hàng hóa. Nhóm này xem dịch vụ Logistics là việc tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ, vì vậy dịch vụ Logistics mang nhiều ý nghĩa về yếu tố vận tải, ngƣời cung cấp dịch vụ Logistics theo khái niệm này không có nhiều khác biệt so với ngƣời cung cấp dịch vụ vận tải đa phƣơng thức. Nhóm thứ hai với định nghĩa rộng hơn về dịch vụ Logistics, Logistics tác động từ quá trình tiền sản xuất cho đến khi sản phẩm đến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Theo định nghĩa của nhóm này thì dịch vụ Logistics gắn liền với quản lý quá trình nhập nguyên vật liệu đầu vào cho quá trình sản xuất, qua các khâu sản xuất hàng hóa và đƣa chúng vào các kênh phân phối để đến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng.
Dịch vụ Logistics cũng phân định rõ ràng hơn vai trò của các nhà cung cấp dịch vụ riêng lẻ bên trong đó nhƣ dịch vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối, dịch vụ tài chính, dịch vụ tƣ vấn quản lý,… với một nhà cung cấp dịch vụ Logistics chuyên nghiệp và trọn gói đảm nhận toàn bộ các khâu bên trong và đƣa hàng hóa đến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Trong phạm vi của đề tài, tác giả dựa trên khái niệm dịch vụ Logistics trong Luật Thƣơng mại để làm cơ sở nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại dịch vụ và dịch vụ Logistics Lĩnh vực hoạt động của dịch vụ rất đa dạng nên khi nghiên cứu sâu hơn, dịch vụ đƣợc phân loại theo một số tiêu chí nhất định: Phân loại theo vai trò của dịch vụ trong sản phẩm cung cấp cho khách hàng gồm dịch vụ thuần túy và dịch vụ bổ sung.
Phân loại theo đối tƣợng trực tiếp của dịch vụ gồm dịch vụ dành cho cơ thể con ngƣời, dịch vụ dành cho tinh thần con ngƣời, dịch vụ dành cho tài sản của con ngƣời và dịch vụ dành cho quyền sở hữu của con ngƣời. Phân loại theo mức độ hữu hình của sản phẩm cung cấp cho khách hàng gồm những vật phẩm hữu hình kèm theo cung cấp cho khách hàng, môi trƣờng vật lý trong đó quá trình tiêu dùng dịch vụ xảy ra và các yếu tố hữu hình khác hiện diện trong quá trình cũng cấp dịch vụ. Phân loại theo tần suất mua và sử dụng gồm dịch vụ tiêu dùng thƣờng xuyên, nhanh chóng thƣờng là có giá trị thấp và dịch vụ tiêu dùng không thƣờng xuyên, có giá trị, quá trình mua đƣợc cân nhắc kĩ lƣỡng. Tuy nhiên, với dịch vụ Logistics sẽ có sự phân loại đặc thù dựa trên quá trình phát triển các loại hình Logistics thể hiện ở hình bên dƣới: Hình 1.1: Quá trình phát triển các loại hình Logistics (Nguồn: A.
Jakubauskas, 2007) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- 1PL (First Party Logistics hay Logistics tự cấp, Logistics bên thứ nhất) do những ngƣời sở hữu hàng hoá tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động Logistics để đáp ứng nhu cầu bản thân doanh nghiệp. 2PL (Second Party Logistics hay Logistics bên thứ hai) là ngƣời cung cấp một vài dịch vụ Logistics đơn lẻ nhằm đáp ứng nhu cầu của chủ hàng nhƣng chƣa tích hợp các hoạt động Logistics mà chỉ đảm nhận một khâu trong đó. 3PL (Third Party Logistics hay Logistics bên thứ ba) là thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ Logistics nhƣ cung cấp chứng từ hoặc thay mặt cho nhà XNK làm thủ tục thông quan hàng hóa và đƣa hàng đến điểm đến quy định thông qua toàn bộ quá trình hoặc một số hoạt động chọn lọc. Doanh nghiệp và nhà cung cấp 3PL quan hệ chặt chẽ nhằm chia sẻ thông tin, rủi ro, lợi ích và tập trung nhiều hơn vào giải pháp Logistics để tìm kiếm, kết hợp và thiết kế các giải pháp tối ƣu phù hợp với nhu cầu khách hàng ở cấp độ cao hơn.
4PL (Four Party Logistics hay Logistics bên thứ tƣ) là ngƣời hợp nhất, gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất kỹ thuật của mình với tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi cung ứng Logistics. 4PL quản lý và thực hiện các hoạt động Logistcis phức tạp nhƣ quản lý nguồn lực, trung tâm điều phối kiểm soát và tích hợp các hoạt động Logistics nhằm vƣơn tới thị trƣờng toàn cầu và các mối quan hệ lâu bền. Nó cũng cung cấp giá trị dịch vụ thêm nhƣ lập kế hoạch, tích hợp CNTT, theo dõi và truy tìm, tƣ vấn ứng dụng hậu cần, dịch vụ tài chính,. Trong thực tế, 4PL hƣớng về việc tƣ vấn các chiến lƣợc phát triển chuỗi cung ứng Logistics cho khách hàng.
5PL (Five Party Logistics hay Logistics bên thứ năm) là nhà cung cấp dịch vụ liên quan đến thị trƣờng thƣơng mại điện tử, bao gồm các 3PL và 4PL quản lý tất cả các bên liên quan trong chuỗi phân phối trên nền tảng thƣơng mại điện tử. Chìa khóa thành công cho các nhà cung cấp dịch vụ Logistics LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 10 - bên thứ năm là các hệ thống: hệ thống quản lý đơn hàng (OMS), hệ thống quản lý kho hàng (WMS) và hệ thống quản lý vận tải (TMS). Cả ba hệ thống này có liên quan chặt chẽ với nhau trong một hệ thống thống nhất và đƣợc sự hỗ trợ của CNTT. Ngoài ra, dịch vụ Logistics còn đƣợc phân loại theo quá trình bao gồm: Logistics đầu vào (Inbound logistics): là các hoạt động đảm bảo cung ứng các yếu tố đầu vào (nguyên liệu, thông tin, vốn,…) tối ƣu về vị trí, thời gian và chi phí cho quá trình sản xuất.