Chương I: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu. Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Kết luận và hàm ý chính sách 7. Téng quan tài liệu nghiên cứu Baloglu và MeCLeary (1999) [5] đã nghiên cứu những ảnh hưởng trên cấu trúc hình ảnh và hình thành trước khi viếng thăm thực tế. Các yếu tố kích thích và các yếu tố cá nhân là hai lực lượng chính hình thành nên điểm đến hình ảnh tổng thẻ.
Các yếu tố kích (kích thích bên ngoài , đối tượng vật lý và kinh nghiệm trước đây) và các yếu tố cá nhân (đặc điểm xã hội và tâm lý). Hai loại yếu tố ảnh hưởng đến hình ảnh nhận thức và hình ảnh tình cảm của một điểm đến. Baloglu và MeCLeary nhắn mạnh vai trò của các yếu tố trong. quá trình hình thành hình ảnh điểm đến.
Đa dạng, số lượng và loại nguồn thông tin về điểm đến sử dụng và đánh giá nhân khẩu học và xã hội ảnh hưởng đến nhận thức và nhận thức có các thuộc tính điểm đến. Những nhận thức cùng với những động cơ tâm lý - xã hội du lịch tạo cảm giác tới điểm đến. Mô hình này nhắn mạnh cấu trúc năng động của hình ảnh và tính chất đa chiều của các thành phần của nó. Tuy nhiên nó thiếu một cách tiếp cận toàn diện vì nó cho thấy mối quan hệ có phần tuyến tính của nó một số thành phần của hình ảnh, để lại rat nhiều thành phần khác thiếu sót.
Gần đây, nhiều nghiên cứu lý thuyết hình ảnh nhận thức, tình cảm đã được tién hanh sau Baloglu va McCleary (1999). Hanzaee va Saeedi (2011) đã tiến hành nghiên cứu tổng thể của điểm đến dựa trên ba thuộc tính hình ảnh, đó là thuộc tính hình ảnh nhận thức, hình ảnh độc đáo, hình ảnh tình cảm, Hanzaee và Saeedi đã phát triển một hình hình đo lường hình ảnh điểm đến trong lĩnh vực du lịch bằng cách áp dụng các lý thuyết truyền thống và hiện đại tại thành phố Isfahan. Nghiên cứu này đưa ra kết luận rằng hình ảnh điểm đến là một cấu trúc đa chiều, ảnh hưởng bởi hình ảnh nhận thức, hình ảnh độc đáo và hình ảnh tình cảm có ảnh hưởng đến hành vi chung của khách du lịch [16]. Theo Fakeye va Crompton (1991), sự phát triển của hình ảnh điểm đến.
trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là hình ảnh cơ bản được hình thành, tiếp theo đó thông qua động cơ đi du lịch và quá trình tìm kiếm thông tin về điểm đến hình thành nên giai đoạn hình ảnh bị thuyết phục. Giai đoạn bị thuyết phục liên quan đến hoạt động marketing của điểm đến. Trong quá trình tìm kiếm thông tin, du khách sẽ sàng lọc, xem xét những lợi ích của hình ảnh điểm đến, những mặt thuận lợi và khó khăn để rồi đưa ra điểm đến được lựa chọn.
Trong giai đoạn cuối, có cuộc viếng thăm thật sự điểm đến và kết quả là một hình ảnh phức hợp. Đối với du khách tiềm năng phát triển hình ảnh cơ bản dựa trên nhận thức tổng quát về điểm đến tiềm năng. Một khi sự mong muốn có được một chuyến đi nghỉ nảy sinh, khả năng liên quan đến những thông tin thu thập được hướng dẫn bởi những động cơ khác nhau. Kết quả là du khách tiềm năng này phát triển hình ảnh bị thuyết phục đã được “tinh lọc” đối với các điểm đến lựa chọn.
Trong lúc viếng thăm một điểm đến được chọn, du khách sẽ phát triển một hình ảnh phức tạp có được từ kinh nghiệm thực tế về điểm đến, và kinh nghiệm này sẽ cho những phản hồi và ảnh hưởng, đến quá trình lựa chọn điểm đến cho kỳ nghỉ tiếp theo. Nghiên cứu của Gartner, W.(1993) cho rằng hình ảnh điểm đến được hình thành từ ba thành phần khác nhau nhưng có quan hệ theo cấp độ với nhau: lý tính, cảm tính và ý định thực hiện. Mối quan hệ giữa ba thành phần này cuối cùng quyết định thực hiện chuyến du lịch [13]. Hình ảnh lý tính được chiết xuất từ thực tế và có thể được xem như là tổng hòa niềm tin và thái độ về sự vật dẫn đến hình thành một bức tranh về các thuộc tính được chấp nhận.
Đối với hình ảnh lý tính, mỗi thuộc tính của điểm đến có tầm quan trọng và giá trị nhất định. Nguyễn Thị Bích Thủy (2013) [3]. Nghiên cứu này tiến hành đo lường hình ảnh điểm đến kết hợp giữa nghiên cứu tài liệu với phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Trên cơ sở lý thuyết thực tiễn nghiên cứu liên quan đến hình ảnh điểm đến, tác giả xác định các thành phần hình ảnh điểm đến Đà Nẵng trong tâm trí du khách quốc tế theo mô hình 3 thành phần của Echtner & Ritchie (1991).
Cùng với thang đo hình ảnh trên cơ sở thuộc tính của điểm đến Đà Nẵng, xác định những nhân tố và thuộc tính hình ảnh được đánh giá thuận lợi nhất và kém thuận lợi nhất của điểm đến Đà Nẵng. thời xác định sự khác biệt về hình ảnh điểm đến Đà Nẵng giữa các nhóm du lịch có động cơ và hành vi du lịch khác nhau góp phần củng có đồng thời phát triển thêm biến số trong mô hình về các yếu tố ảnh hưởng đến hình ảnh điểm đến CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. TÔNG QUAN VỀ HÌNH ANH DIEM DEN DU LICH 1. Các khái niệm cơ bản a.
Du lich Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, nhu cầu du lịch đang ting nhanh và vì vậy ngành du lịch đã trở thành một ngành kinh tế phát triển nhanh ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ở nhiều quốc gia và địa phương, du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Hiệp hội lữ hành quốc tế đã công nhận du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới. Thuật ngữ du lịch đã trở nên khá thông dụng, nó bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: Tonos nghĩa là đi một vòng.
Thuật ngữ này được La tỉnh hoá thành Tumur và sau đó thành “Tour” (tiếng Pháp), nghĩa là di vòng quanh, cuộc dạo chơi, còn Touriste là người đi dạo chơi. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về du lịch. Theo liên hiệp quốc tế các tô chức lữ hành chính thức (International union of official travel oragnization): “Du lich được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục. đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống” [1] Tổ chức Du lịch Thế giới định nghĩa: “Du lịch bao gồm tắt cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng, như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền.
Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cu” [1]. Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2005, du lịch được định nghĩa như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [1], Theo Pirogiơnic (1985), du lịch là “một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan tới sự di chuyên và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hoá”. Theo định nghĩa của Pike (2008), du lịch là các hoạt động của con người liên quan đến việc dịch chuyển tạm thời của con người đến một điểm đến nào đó bên ngoài nơi mà họ sống và làm việc thường xuyên cho mục đích giải trí, kinh doanh và các mục đích khác [18]. Năm 2003, Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới đưa ra một bản kế hoạch thực hiện Du lịch Mới, kêu gọi cả chính phủ lẫn ngành du lịch phải cam kết dài hạn để đảm bảo triển vọng của du lịch và lữ hành — một trong.
những ngành chịu trách nhiệm về 200 triệu việc làm và trên 10% GDP toàn cầu. Kế hoạch Du lịch Mới này bao gồm tầm nhìn mới và các chiến lược hướng dẫn sự phục hồi của du lịch sau hàng loạt biến động như chủ nghĩa khủng bó, suy thoái kinh tế, chiến tranh, căn bệnh SARS. Sản phẩm du lịch Theo Tổ chức Du lịch Thế giới thuộc Liên Hiệp Quốc (UNWTO), “Sản phẩm du lịch là sự tổng hợp của 3 nhóm yếu tố ấu thành: Hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; tài nguyên - môi trường du lịch; dịch vụ, quản lý và hình ảnh du lịch” [1]. Sản phẩm du lịch đặc trưng là sản phẩm du lịch hội đủ 3 nhóm yết ấu thành trên nhưng phải mang tính khác biệt, độc đáo và đặc sắc so với sản phẩm du lịch thông thường nhằm thu hút du khách, mở rộng thị 10 trường du lịch, khai thác tốt các tài nguyên du lịch, các tiềm năng, lợi thế của địa phương để phát triển du lịch một cách bền vững.
Tính khác biệt của sản phẩm du lịch đặc trưng được quy định bởi đặc điểm tự nhiên hoặc văn hóa của địa phương nơi sản phẩm du lịch được phát triển, còn tính độc đáo và đặc sắc chính là cách thức xây dựng và khả năng khai thác sản phẩm du lịch đặc trưng đề phục vụ du khách, phát triển du lịch ở địa phương. “Sản phẩm du lịch là toàn bộ những dịch vụ tạo ra các hàng hóa văn hóa mang tính đặc thù do các cá nhân và tổ chức kinh doanh du lịch cung cấp để phục vụ những nhu cầu của các đối tượng du khách khác nhau; nó phù hợp với những tiêu chí nghề nghiệp theo thông lệ quốc tế đồng thời chứa đựng những giá trị văn hóa đặc trưng bản địa, đáp ứng và làm thỏa mãn các mục tiêu kinh tế - xã hội đối với các cá nhân, tổ chức và địa phương nơi đang diễn ra các hoạt động kinh doanh du lịch” (Dương Văn Sáu (2012)).