Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về luận văn. Chương 2 này mục đích giới thiệu các lý thuyêt về thương hiệu và giá trị thương hiệu đã được phát triển trên thế giới và Việt Nam. Một mô hình lý thuyêt và các giả thuyết cũng được xây dựng. Chương 2 bao gồm các phần chính sau: + Các lý thuyết về thương hiệu, giá trị thương hiệu và sản phẩm + Các mô hình lý thuyết về giá trị thương hiệu + Các giả thuyết và mô hình lý thuyết nghiên cứu về các thành phần giá trị thương hiệu sản phẩm sữa.2 Các khái niệm liên quan 2.1 Thương hiệu Thương hiệu (Brand) có nguồn gốc từ chữ “Brandr”, theo tiếng Ailen cổ có nghĩa là “đóng dấu”.
Có nhiều định nghĩa về thương hiệu nhưng các định nghĩa này được phân hóa thành hai nhóm quan điểm chính: + Theo quan điểm truyền thống: “ Thương hiệu là một dấu hiệu đặc biệt để nhận biết sản phẩm, một hàng hóa hay một dịch vụ nào đó được sản xuất, được cung cấp bởi một tổ chức hay một cá nhân” (Tồ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO_World Itellectual Property Organizatinon) Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, thì thương hiệu là "một cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng, một hình vẽ hay tổng hợp tất cả các yếu tố trên nhằm xác định các sản phẩm hay dịch vụ của một (hay một nhóm người bán) và phân biệt các sản phẩm (dịch vụ) đó với các đối thủ cạnh tranh”[11]. + Theo quan điểm tổng hợp: thương hiệu không chỉ là một cái tên hay biểu tượng mà nó phức tạp hơn nhiều. Nó là tập hợp các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi. Quan niệm này cho rằng, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu, chủ yếu cung cấp lợi ích chức năng cho người tiêu dùng và nó chỉ là một thành phần của sản phẩm.
Người tiêu dùng có hai nhu cầu, đó là (1) nhu cầu về chức năng và (2) nhu cầu về tâm lý. Sản phẩm chỉ cung cấp nhu cầu về chức năng, còn thương hiệu đáp ứng được cả hai nhu cầu (Hankinson & Cowking 1996)[6]. Stephen King của tập đoàn WPP cho rằng “ Sản phẩm là những gì được sản xuất trong nhà máy, thương hiệu những gì khách hàng mua. Sản phẩm có thể bị bắt chước bởi các đối thủ cạnh tranh nhưng thương hiệu là tài sản riêng của công ty.
Sản phẩm có thể nhanh chóng bị lạc hậu, nhưng thương hiệu nếu thành công sẽ không bao giờ lạc hậu[9, tr1].2 Giá trị thương hiệu Giá trị thương hiệu là một khái niệm đa chiều và phức tạp, ý nghĩa của thuật ngữ này được bàn luận dưới các góc độ khác nhau cho những mục đích khác nhau. Theo Lassar & ctg (1995) giá trị thương hiệu được nghiên cứu có hai nhóm chính: giá trị thương hiệu đánh giá theo quan niệm đầu tư hay tài chính và giá trị thương hiệu đánh giá theo quan niệm khách hàng. Một là, quan điểm đánh giá dưới góc độ tài chính, khái niệm về giá trị thương hiệu có: + Theo J.Walker Smith thuộc Yakelovic Clancy Schudman cho rằng: Giá trị thương hiệu là trị giá có thể đo lường được về mặt tài chính của công việc kinh doanh một sản phẩm hay dịch vụ thông qua các hoạt động kinh doanh thành công. + Theo John Brodsky thuộc tập đoàn NPD Group: Giá trị thương hiệu là sự hiệu quả về mặt doanh thu và lợi nhuận mà công ty thu được từ kết quả của những nỗ lực marketing trong những năm trước đó so với thương hiệu cạnh tranh.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- + Peter Farquhar thuộc Trường Claremont Graduate: Giá trị thương hiệu là phần giá trị tăng thêm cho công ty và khách hàng của sản phẩm được gắn thương hiệu đó. Tóm lại ở góc độ tài chính, giá trị thương hiệu là khoản thu tăng thêm của một sản phẩm có thương hiệu so với sản phẩm không có thương hiệu. Hai là, quan điểm đánh giá từ góc độ người tiêu dùng, khái niệm về giá trị thương hiệu có: + Theo Market Facts, giá trị thương hiệu là sự hài lòng của khách hàng có tiếp tục mua thương hiệu của công ty hay không. Vì vậy,việc đo lường giá trị thương hiệu chủ yếu liên quan đến lòng trung thành và lượng hóa các phân đoạn thị trường từ những nhóm khách hàng sử dụng thường xuyên đến nhóm sử dụng không thường xuyên[2].
Kiến thức này bao gồm hai phần: nhận thức thương hiệu và ấn tượng thương hiệu [14]. Mặc dù có nhiều khái niệm về giá trị thương hiệu mà điển hình là những khái niệm đã trình bày, nhưng nhìn chung giá trị thương hiệu hầu hết được đánh giá và phân tích từ góc độ người tiêu dùng. Bởi vì: Đánh giá giá trị thương hiệu dưới góc độ tài chính tuy góp phần vàoviệc đánh giá tài sản của một công ty, nhưng nó lại không giúp nhiều các nhà quản trị trong việc tận dụng và phát triển giá trị thương hiệu. Hơn nữa, về mặt tiếp thị, giá trị tài chính của một thương hiệu chính là kết quả đánh giá của người tiêu dùng về thương hiệu đó.
Lý do là khi khách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- hàng đánh giá cao về một thương hiệu thì họ có xu hướng tiêu dùng thương hiệu đó (Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Thị Mai Trang & Barrett 2003). Bảng 2-1: Tóm tắt khái niệm giá trị thương hiệu STT Giá trị thương hiệu Nội dung chính 1 David A. Aaker Giá trị thương hiệu là một tập hợp các giá trị gắn liền với tên hoặc biểu tượng của thương hiệu, những giá trị này sẽ được cộng vào sản phẩm hay dịch vụ. 2 Market Facts Giá trị thương hiệu là sự hài lòng của khách hàng có tiếp tục mua thương hiệu của công ty hay không.L Keller Giá trị thương hiệu là kiến thức của khách hàng về thương hiệu.
Trong nghiên cứu này giá trị thương hiệu là giá trị được đánh giá dựa trên quan niệm khách hàng (consumer-based brand equity). Có hai quan niệm đánh giá giá trị thương hiệu theo khách hàng, đó là (1) dựa vào lý thuyết tâm lý học nhận thức (cognitive psychology) xuất phát từ thái độ của người tiêu dùng sẽ dẫn đến hành vi tiêu dùng thương hiệu [6] và (2) dựa vào lý thuyết tín hiệu (sighnaling theory) bắt nguồn từ học thuyết thông tin dựa trên điều kiện thông tin thị trường là nguồn thông tin không hoàn hảo và bất cân xứng [16]. Cả hai phương pháp đều có tính ưu nhược riêng, tuy nhiên để tìm hiểu giá trị thương hiệu sản phẩm sữa, nghiên cứu này theo quan niệm dựa vào lý thuyết tâm lý học nhận thức để đo lường các thành phần của giá trị thương hiệu sản phẩm sữa, đánh giá giá trị thương hiệu để xem xét quá trình nhận thức của khách hàng về thương hiệu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Khái niệm về sản phẩm Theo quan niệm cổ điển, sản phẩm là tổng hợp của các đặc tính vật lý, hóa học, có thể quan sát, được tập hợp trong một hình thức đồng nhất là vật mang giá trị sử dụng.
Trong nền sản xuất hàng hóa, sản phẩm chứa đựng các thuộc tính hàng hóa, là sự thống nhất của hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị. Nói khác đi, sản phẩm với tư cách là một hàng hóa, nó không chỉ là sự tổng hợp các đặc tính hóa học, vật lý, các đặc tính sử dụng mà còn là vật mang giá trị trao đổi hay giá trị. Theo quan điểm marketing sản phẩm là tất cả những cái, những yếu tố có thể thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn được đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng của người tiêu dùng. Sản phẩm theo quan niệm marketing là sản phẩm cho người mua, người sử dụng.
Sự mở rộng, sự chuyển hóa, thay thế và phát triển nhu cầu ở người tiêu dùng là rất đa dạng và phong phú, đã mở ra một phạm vi khai thác rộng lớn cho các chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp. Sữa là một chất lỏng màu trắng đục được tạo ra bởi loài cái động vật có vú (bao gồm cả động vật đơn huyệt). Khả năng tạo ra sữa là một trong những đặc điểm phân định động vật có vú. Sữa là loại thức uống đặc biệt, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng và có mùi vị thơm ngon.
Sản phẩm sữa cung cấp hơn mười chất dinh dưỡng thiết yếu trong đó bao gồm protein, carbohydrate, vitamin A, D, B12 và riboflavin, và khoáng chất: canxi, phốt pho, magiê, kali và kẽm. Sữa lại chứa số lượng khoáng chất chủ yếu như: chất béo no, protein và canxi cũng như vitamin C. Ngày nay, chúng ta đã rất quen thuộc với rất nhiều các loại sản phẩm sữa như: sữa bột, sữa nước, sữa chua, sữa đặc. Không ai có thể phủ nhận một thực tế rằng, mọi người quan tâm nhiều hơn đến sức khoẻ để bổ sung nguồn dinh dưỡng thích ứng với những yêu cầu về thể chất, tinh thần.
Sữa chính là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -11- một trong những nguồn dinh dưỡng mang lại cho người tiêu dùng sự sảng khoái, ngon miệng và bổ dưỡng. đặc biệt giúp cho cơ thể phát triển chiều cao, tăng cường sức khoẻ, giúp cho cơ thể khoẻ mạnh.3 Các mô hình lý thuyết 2.1 Mô hình giá trị thương hiệu của David Aaker (1991) Theo David Aaker (1991) giá trị thương hiệu là yếu tố đặc biệt quan trọng để tạo ra những điểm khác biệt làm tăng lợi thế cạnh tranh, giá trị được tạo ra cho khách hàng sẽ làm tăng giá trị cho doanh nghiệp, Aaker (1991) đưa ra năm thành phần của giá trị thương hiệu, gồm: (1) nhận biết thương hiệu (brand awareness), (2) chất lượng cảm nhận (perceived quality), (3) lòng trung thành thương hiệu (brandloyalty), (4) sự liên tưởng của thương hiệu (brand associations), (5) tài sản trí tuệ (proprietary assets) như: bằng sáng chế , nhãn hiệu…[9]. Nhận biết thương hiệu Chất lượng cảm nhận GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU Lòng trung thành thương hiệu Sự liên tưởng của thương hiệu Tài sản trí tuệ Hình 2-1: Mô hình giá trị thương hiệu của Aaker (1991) 2.2 Mô hình giá trị thương hiệu của Lassar & ctg (1995) Lassar & ctg (1995) cho rằng giá trị thương hiệu gồm năm thành phần là (1) chất lượng cảm nhận, (2) giá trị cảm nhận, (3) ấn tượng thương hiệu, (4) lòng tin về thương hiệu, (5) cảm tưởng về thương hiệu [6]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -12- Chất lượng cảm nhận Giá trị cảm nhận GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU Ấn tượng thương hiệu Lòng tin về thương hiệu Cảm tưởng về thương hiệu Hình 2-2: Mô hình giá trị thương hiệu của Lassar & ctg (1995) 2.