CHƯƠNG 1 : KIẾN TRÚC Giới thiệu công trình: Tên công trình: Trụ Sở Làm việc Trường đại học Giao Thông Vận Tải Hà Nội. Địa điểm xây dựng: Đống Đa - Hà Nội Đơn vị chủ quản: Trường đại học Giao thông vận tải - Hà Nội. Thể loại công trình: Nhà làm việc kết hợp phòng học Quy mô công trình: Công trình có 9 tầng bao gồm cả mái Chiều cao toàn bộ công trình: 30,95m Chiều dài: 58.5m Công trình được xây dựng trên khi đất đã san gạt bằng phẳng và có diện tích xây dựng khoảng 983m2 Chức năng phục vụ: Công trình được xây dựng phục vụ với chức năng đáp ứng nhu cầu học tập và làm việc cho cán bộ, nhân viên và toàn thể sinh viên của trường. Tầng 1: Gồm các phòng làm việc, sảnh chính và khu vệ sinh… Tầng 2: Gồm các phòng làm việc, thư viện, kho sách… Tầng 3 đến tầng 9: Gồm các phòng làm việc khác.
SVTH: TRẦN QUANG MINH / LỚP XD1901D -9- Luan van Trụ sở trường đại học giao thông vận tải hà nội CƠ SỞ TÍNH TOÁN 1. Các tài liệu sử dụng trong tính toán 1. TCVN 5574-2012: Tiêu chuẩn thiết lế kết cấu bê tông cốt thép. TCVN 2737-1995: Tiêu chuẩn tải trọng và tác động.
Tài liệu tham khảo.Hướng dẫn sử dụng chương trình SAP 2000.Hoàng Hiếu Nghĩa. Ks Trịnh Duy Thành Sàn sườn BTCT toàn khối – ThS.Nguyễn Duy Bân, ThS. Mai Trọng Bình, ThS. Nguyễn Trường Thắng.
Kết cấu bêtông cốt thép ( phần cấu kiện cơ bản) – PGS. Phan Quang Minh, Gs. Ngô Thế Phong, Gs. Nguyễn Đình Cống.
Kết cấu bêtông cốt thép (phần kết cấu nhà cửa) – GS. Ngô Thế Phong, Pgs. Lý Trần Cường, Ts Trịnh Thanh Đạm, PGS. Nguyễn Lê Ninh.
Kết cấu nhà cao tầng bê tông cốt thép – Ths. Hoàng Hiếu Nghĩa Khung bê tông cốt thép toàn khối – PGS. SVTH: TRẦN QUANG MINH / LỚP XD1901D - 10 - Luan van Trụ sở trường đại học giao thông vận tải hà nội CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH LỰA CHỌN GIẢI PHÁP KẾT CẤU CÔNG TRÌNH.TÍNH TOÁN NỘI LỰC 2. LỰA CHỌN CÁC LOẠI VẬT LIỆU CHO CÔNG TRÌNH.
Hiện nay ở Việt Nam, vật liệu dùng cho kết cấu nhà cao tầng thường sử dụng là kim loại (chủ yếu là thép) hoặc bê tông cốt thép. Nếu dùng kết cấu thép cho nhà cao tầng thì việc đảm bảo thi công tốt các mối nối là rất khó khăn, mặt khác giá thành công trình bằng thép thường cao mà chi phí cho việc bảo quản cấu kiện khi công trình đi vào sử dụng là rất tốn kém. Kết cấu bằng bê tông cốt thép làm cho công trình có trọng lượng bản thân lớn, công trình nặng nề hơn dẫn đến kết cấu móng lớn. Tuy nhiên, kết cấu bê tông cốt thép khắc phục được một số nhược điểm của kết cấu thép: như thi công đơn giản hơn, vật liệu rẻ hơn, bền với môi trường và nhiệt độ, ngoài ra giải pháp này tận dụng được tính chịu nén rất tốt của bê tông và tính chịu kéo của cốt thép bằng cách đặt nó vào vùng kéo của cốt thép.
Từ những phân tích trên, ta lựa chọn bê tông cốt thép là vật liệu cho kết cấu công trình, và để hợp lý với kết cấu nhà cao tầng ta sử dụng bê tông mác cao. Các vật liệu xây dựng chủ yếu như: gạch, cát, đá, xi măng đợc sản xuất tại địa phương để hạ giá thành công trình. Có thí nghiệm xác định tính chất cơ lí trước khi dùng. - Bê tông cấp độ bền B20 : Rb = 11,5 MPa Rbt = 0,9 MPa Eb = 27.103 MPa - Cốt thép: + Nếu d < 10mm thì dùng cốt thép nhóm CI có: Rs = 225MPa Rsw = 175MPa Es = 21.104 MPa + Nếu d > 10mm thì dùng cốt thép nhóm CII có: Rs = 280 MPa Rsw = 225 MPa SVTH: TRẦN QUANG MINH / LỚP XD1901D - 11 - Luan van Trụ sở trường đại học giao thông vận tải hà nội Es = 21.104 MPa - Tra bảng : Bê tông B20 : γb2 = 1; Thép CI : ξR = 0,645; αR = 0,437 Thép CII : ξR = 0,623; αR = 0,429 2.
LỰA CHỌN CÁC GIẢI PHÁP KẾT CẤU CHO CÔNG TRÌNH. Đối với việc thiết kế công trình, việc lựa chọn giải pháp kết cấu đóng một vai trò rất quan trọng, bởi vì việc lựa chọn trong giai đoạn này sẽ quyết định trực tiếp đến giá thành cũng như chất lượng công trình. Có nhiều giải pháp kết cấu có thể đảm bảo khả năng làm việc của công trình do vậy để lựa chọn được một giải pháp kết cấu phù hợp cần phải dựa trên những điều kiện cụ thể của công trình. - Dựa vào đặc điểm công trình.
- Tải trọng tác dụng vào công trình. - Yêu cầu của kiến trúc về hình dáng, công năng, tính thích dụng. - Xuất phát từ đặc điểm công trình là khối nhà nhiều tầng (8 tầng ), chiều cao công trình lớn, tải trọng tác dụng vào cộng trình tương đối phức tạp. Nên cần có hệ kết cấu chịu lực hợp lý và hiệu quả.
Phân loại các giải pháp kết cấu. Kết cấu chịu lực chính (các dạng kết cấu khung) 2. Hệ khung chịu lực. - Hệ kết cấu thuần khung có khả năng tạo ra các không gian lớn, linh hoạt thích hợp với các công trình công cộng.
Hệ kết cấu khung có sơ đồ làm việc rõ ràng nhưng nhược điểm là kém hiệu quả khi chiều cao công trình lớn, khả năng chịu tải trọng ngang kém, biến dạng lớn. Để đáp ứng đượcyêu cầu biến dạng nhỏ thì mặt cắt tiết diện, dầm cột phải lớn nên lãng phí không gian sử dụng, vật liệu, thép phải đặt nhiều. - Trong thực tế kết cấu thuần khung BTCT được sử dụng cho các công trình có chiều cao 20 tầng đối với cấp phòng chống động đất 7, 15 tầng đối với nhà trong vùng có chấn động động đất đến cấp 8 và 10 tầng đối với cấp 9. Hệ kết cấu vách cứng lõi cứng.
- Hệ kết cấu vách cứng có thể đợc bố trí thành hệ thống thành 1 phương,2 phương hoặc liên kết lại thành các hệ không gian gọi là lõi cứng. Đặc điểm quan trọng của loại kết cấu này là khả năng chịu lực ngang tốt nên thườngđược sử dụng cho các công trình có chiều cao trên 20 tầng. SVTH: TRẦN QUANG MINH / LỚP XD1901D - 12 - Luan van Trụ sở trường đại học giao thông vận tải hà nội - Tuy nhiên độ cứng theo phương ngang của của các vách tường chỉ tỏ ra hiệu quả ở những độ cao nhất định. Khi chiều cao công trình lớn thì bản thân vách cũng phải có kích thước đủ lớn mà điều đó khó có thể thực hiện được.
Ngoài ra hệ thống vách cứng trong công trình là sự cản trở để tạo ra các không gian rộng. - Trong thực tế, hệ kết cấu vách cứng được sử dụng có hiệu quả cho các ngôi nhà dưới 40 tầng với cấp phòng chống động đất cấp 7, độ cao giới hạn bị giảm đi nếu cấp phòng chống động đất cao hơn.Hệ kết cấu khung giằng (khung và vách cứng). - Hệ kết cấu khung giằng (khung và vách cứng) được tạo ra bằng sự kết hợp hệ thống khung và hệ thống vách cứng. Hệ thống vách cứng thường được tạo ra tại khu vực cầu thang bộ, cầu thang máy.
Khu vệ sinh chung hoặc ở các tường biên là các khu vực có tường liên tục nhiều tầng. Hệ thống khung được bố trí tại các khu vực còn lại của ngôi nhà. Hai hệ thống khung và vách được liên kết với nhau qua hệ kết cấu sàn trong trường hợp này hệ sàn liên khối có ý nghĩa rất lớn. Thường trong hệ thống kết cấu này hệ thống vách đóng vai trò chủ yếu chịu tải trọng ngang.
Hệ khung chủ yếu đợc thiết kế để chịu tải trọng thẳng đứng. Sự phân rõ chức năng này tạo điều kiên để tối ưu hoá các cấu kiện, giảm bớt kích thước cột và dầm đáp ứng được yêu cầu của kiến trúc. - Loại kết cấu này được sử dụng cho các ngôi nhà dưới 40 tầng với cấp phòng chống động đất 7; 30 tầng đối với nhà trong vùng có động đất cấp 8; 20 tầng đối với cấp 9. Kết luận : Công trình “Trụ Sở Làm Việc Trường Đại Học GTVT Hà Nội” là công trình cao 8 tầng, chiều cao trung bình mỗi tầng là 3,5m, bước nhịp trung bình là 7 m.
Vì vậy tải trọng theo phương đứng và phương ngang là khá lớn. Đồng thời, do đặc điểm của công trình là trụ sở làm việc yêu cầu đảm bảo về mặt kiến trúc, công năng, tính thích dụng. Kích thước của công trình theo phương ngang là 16,8m, theo phương dọc là 58,5m, theo phương đứng là 32,15m.Từ những đặc điểm trên ta thấy sử dụng phương án Khung BTCT chịu lực là hợp lý hơn cả. Công trình có chiều dài lớn so với chiều rộng ( H>2B) thì ta nên chọn hệ khung phẳng để tính toán vì tính toán khung phẳng đơn giản hơn và tăng độ an toàn cho công trình… 2.
Phân tích lựa chọn giải pháp kết cấu sàn. Phương án sàn sườn BTCT toàn khối: Cấu tạo hệ kết cấu sàn bao gồm hệ dầm chính phụ và bản sàn. Ưu điểm: Lý thuyết tính toán và kinh nghiệm tính toán khá hoàn thiện, thi công đơn giản, được sử dụng phổ biến ở nước ta với công nghệ thi công phong phú nên SVTH: TRẦN QUANG MINH / LỚP XD1901D - 13 - Luan van Trụ sở trường đại học giao thông vận tải hà nội thuận tiện cho việc lựa chọn công nghệ thi công. Chất lượng đảm bảo do có nhiều kinh nghiệm thiết kế và thi công trước đây.
Nhược điểm: chiều cao và độ võng của bản sàn rất lớn khi vượt khẩu độ lớn, hệ dầm phụ bố trí nhỏ lẻ với những công trình không có hệ thống cột giữa, dẫn đến chiều cao thông thủy mỗi tầng thấp hoặc phải nâng cao chiều cao tầng, không có lợi cho kết cấu khi chịu tải trọng ngang. Không gian kiến trúc bố trí nhỏ lẻ, khó tận dụng. Không tiết kiệm thời gian và chi phí vật liệu, không tiết kiệm đợc không gian sử dụng.Phương án sàn ô cờ BTCT: Cấu tạo hệ kết cấu sàn bao gồm hệ dầm vuông góc với nhau theo hai phương, chia bản sàn thành các ô bản kê bốn cạnh có nhịp bé, theo yêu cầu cấu tạo khoảng cách giữa các dầm không quá 2m. Các dầm chính có thể làm ở dạng dầm bẹt để tiết kiệm khụng gian sử dụng trong phòng.
Phù hợp cho nhà có hệ thống lới cột vuông.