CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1. Lý do chọn đề tài Mô hình học tập trải nghiệm của David Kolb đã và đang được vận dụng rộng rãi trên toàn thế giới, đặc biệt thể hiện ở lĩnh vực giáo dục (Chiu & Lee, 2019 [4]) cũng như cho nhiều môn học khác nhau ở Việt nam như toán (e. Nguyen, 2019 [22] ; Vu, Nguyen, 2023 [35]), sinh học (e., Tran, 2017 [23] ) và ở các cấp học như trung học phổ thông (e. Nguyen,2019 [22] ;Tang & Pham, 2020[31]) và ở trình độ đại học (e.
Tuy nhiên đến hiện nay vẫn chưa có bất kì sự đề cập đến việc ứng dụng mô hình HTTN vào môn TCSK ngành QTNH&DVAU ở Việt Nam. Do vậy, đồ án này đề cập một số vấn đề cơ bản về mô hình HTTN của Kolb, bước đầu vận dụng các giai đoạn của mô hình này vào dạy học môn học TCSK cho SV ngành QTNH&DVAU ở trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Đề tài là bước khởi đầu để cải thiện và nâng cao chất lượng môn học Tổ chức sự kiện theo hướng HTTN cho SV ngành QTNH&DVAU trường Đại học SPKT TP. Từ đó, giúp GV ngành QTNH&DVAU nâng cao chất lượng giảng dạy, môn học được ứng dụng thực tiễn cao và tăng cường kỹ năng cần thiết cho SV.
Hiện tại môn học TCSK đang được giảng dạy theo nền tảng lý thuyết nên SV chưa đủ năng lực áp dụng lý thuyết vào thực tiễn. Từ những lý do trên nhóm chúng tôi đã chọn đề tài “Vận dụng mô hình học tập của David A Kolb vào môn học Tổ chức sự kiện của Ngành Quản trị Nhà hàng và Dịch vụ Ăn uống trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 1. Tình hình trong nước: Theo nghiên cứu về “Vận dụng mô hình học tập trải nghiệm của David A.
Kolb vào môn học thiết kế đồ án cho sinh viên đại học ngành kiến trúc tại Việt Nam” của Phương, N. Nhóm tác giả khẳng định rằng mô hình này đã được vận dụng vào nhiều môn học và ngành khác nhau, nhưng chưa thấy sự áp dụng đối với học phần đồ án trong ngành kiến trúc ở Việt Nam. Nhóm tác giả đã đề xuất phương pháp chi tiết nhằm vận dụng mô hình HTTN trong việc xây dựng các bước thiết kế khóa học trải nghiệm để cải thiện chất lượng giáo dục đồ án cho SV kiến trúc ở Việt Nam. Điểm đặc biệt được thể hiện ở việc tập trung vào đánh giá tính hiệu quả của việc áp dụng mô hình HTTN của David A Kolb thông qua việc thiết kế và tổ chức chuyến đi HTTN tại Đà Lạt, với sự tham gia của các SV, kiến trúc sư hàng đầu, nhiều GV giàu kinh nghiệm.
Và theo một góc nhìn khác về đề tài “Vận dụng mô hình học tập trải nghiệm của David A. Kolb trong rèn luyện, phát triển năng lực dạy học tiếng Việt cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu 13 Đồ án Tốt nghiệp 14 học” của Hà, T. Bài viết này bàn về sự thích hợp của mô hình HTTN ở việc nâng cao khả năng dạy học tiếng Việt dành cho GV ở cấp bậc tiểu học. Đồng thời đưa ra cái nhìn tổng quan về các khái niệm cơ bản của HTTN và đề xuất khả năng ứng dụng mô hình HTTN của David A Kolb này ở việc nâng cao về năng lực, kỹ năng giảng dạy.
Theo bài báo “Dạy học tích hợp trong giáo dục nghề nghiệp theo lý thuyết học tập trải nghiệm của David A Kolb” của tác giả TS. Bùi Văn Hồng (2015) [14] đưa ra rằng: Mục đích của giáo dục kỹ thuật, dạy nghề là sự tích hợp về kiến thức, kỹ năng và thái độ, thì cấu trúc của nội dung giáo dục phản ánh sự tích hợp này. Việc lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động giáo dục cần dựa trên quy trình giảng dạy tích hợp phù hợp để nâng cao hiệu quả dạy học. Sự tích hợp vào mô hình HTTN của Kolb được thể hiện qua sự tiến triển của các giai đoạn học tập.
Nghiên cứu này trình bày kết quả từ nghiên cứu về mô hình và quy trình dạy học tích hợp, cùng với kết quả của các thử nghiệm dạy học và đánh giá sơ bộ sự hiệu quả của hoạt động dạy học tích hợp. Nghiên cứu “Vận dụng mô hình trải nghiệm của David Kolb để xây dựng chu trình hoạt động trải nghiệm trong dạy học sinh học ở trường phổ thông” của tác giả Trần Thị Gái (2017) [10] đưa ra cách vận dụng các giai đoạn HTTN của Kolb để xây dựng các HĐTN cho HS ở việc giáo dục môn Sinh học. Căn cứ vào mục tiêu, nội dung kiến thức, phong cách học tập của HS, GV sẽ thiết kế các nhiệm vụ học tập theo bốn giai đoạn của chu trình trải nghiệm: trải nghiệm cụ thể, quan sát qua phản ánh, khái niệm hóa trừu tượng, thử nghiệm tích cực. Mỗi giai đoạn trải nghiệm có thể bao gồm nhiều loại HĐTN riêng biệt, đa dạng.
GV cần lựa chọn loại HĐTN phù hợp cho từng giai đoạn và nhóm các giai đoạn thành một chu trình khép kín để tổ chức dạy học. Nghiên cứu này cũng đưa ra những ví dụ cho việc áp dụng mô hình HTTN vào việc thiết kế, tổ chức các HĐTN mang tính chất giáo dục đối với những chủ đề cụ thể ở môn Sinh học. Theo bài báo “Vận dụng mô hình học tập trải nghiệm và phong cách học tập của David A Kolb trong giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học” của Đoàn Thị Mỹ Linh (2020) [9]: HTTN và giáo dục kỹ năng sống có vai trò vô cùng quan trọng ở cấp bậc tiểu học. Dựa trên mô hình HTTN và phong cách học tập của David A Kolb, nghiên cứu đã đưa ra quy trình tổ chức HĐTN mang tính chất giảng dạy kỹ năng sống cho HS tiểu học theo các phong cách học tập đa dạng, thông qua đó phát triển, phát huy những điểm mạnh, tạo những niềm vui, say mê trong học tập cho HS đối với các môn học và giúp nâng cao việc giảng dạy những kỹ năng sống cho HS.
Phần lớn mô hình HTTN của David A Kolb đã và đang được vận dụng nhiều ở các môn học, phương pháp giảng dạy ở cấp tiểu học, trung học còn cấp bậc ĐH chỉ có số ít đề tài, trong đó chưa có bất kì nghiên cứu cho môn học TCSK của Ngành QTNH&DVAU. Tình hình ngoài nước Trong bài báo “Phong cách học tập và không gian học tập: Đánh giá việc ứng dụng đa ngành của lý thuyết học tập trải nghiệm trong giáo dục đại học” Alice Y. Kolb (2006) [15] nói rằng sử dụng khái niệm phong cách học tập và không gian học tập để mô tả sự tương tác giữa người học và môi trường học tập trong giáo dục đại học, nhóm tác giả xem xét nghiên cứu giải quyết cách thức thông tin về phong cách học tập và mô hình HTTN đã được áp dụng nhằm nâng cao việc giảng dạy và học ở mười sáu lĩnh vực học thuật khác nhau và các ngành nghề. Nhấn mạnh vào mối quan hệ giữa phong cách học tập và môi trường học tập ở đại học.
Kết quả nghiên cứu đưa ra rằng học tập qua trải nghiệm cung cấp cơ hội cho giáo viên thiết kế chiến lược dạy, học hiệu quả và tạo môi trường học tập tốt cho GV, SV. Theo bài báo “Cá nhân hóa kịch bản giáo dục của hoạt động học tập theo mô hình phong cách học tập David Kolb” của tác giả Anoir Lamya , Zargane Kawtar, Erradi Mohamed và Khaldi Mohamed (2020) [25]: Cá nhân hóa việc học tập vẫn là chủ đề rất quan trọng trong nghiên cứu, đặc biệt với sự tiến bộ của công nghệ, nó đề cập đến một phương pháp giáo, kết hợp việc dạy và học với các thiết bị, các khóa đào tạo được cá nhân hóa và điều chỉnh cho các hồ sơ người học khác nhau trong bối cảnh học tập xã hội. Nhóm tác giả đã đưa ra một cách tiếp cận chung để cá nhân hóa các tình huống giảng dạy trong các loại hoạt động giảng dạy khác nhau, qua đó xem xét phong cách học tập của người học và dựa trên mô hình phong cách học tập Kolb. Công việc nghiên cứu của họ nhằm phát triển một hệ thống học tập được cá nhân hóa và thích ứng để đáp ứng nhu cầu của người học và tương thích với sở thích và hồ sơ của họ trong suốt quá trình học tập do hệ thống đưa ra các kịch bản sư phạm phù hợp với từng hồ sơ và từng hoạt động.
Theo bài báo “Bài nghiên cứu về siêu nhận thức trong học tập trải nghiệm” của Alice Y. Kolb và David A. Kolb” (2009) [17] nhấn mạnh sự đưa trải nghiệm có ý thức vào tâm lý học học tập. Công trình này mở ra cái nhìn mới về học giả và HTTN, đối với những người thường coi trọng kinh nghiệm thông qua quá trình học tập, theo truyền thống từ các học giả như William James, John Dewey, Kurt Lewin, Carl Rogers, và Paulo Freire.
Bài báo nhấn mạnh đặc biệt đóng góp của James là nền tảng cho học tập và nghiên cứu dựa trên kinh nghiệm siêu nhận thức. Mô hình siêu nhận thức được áp dụng để mô tả các khía cạnh cơ bản của lý thuyết HTTN, như bản sắc học tập, vòng xoáy học tập, phong cách học tập, không gian học tập. Bài viết cũng đề cập đến các chiến lược siêu nhận thức nhằm nâng cao hiệu suất học tập cá nhân, và đề xuất rằng giáo viên cũng có thể tích hợp học tập về học tập vào chương trình giáo dục để tối ưu hóa quá trình học tập. Theo bài báo “Phong cách học tập và không gian học tập: Tăng cường học tập trải nghiệm trong giáo dục đại học” của của Alice Y.
Kolb và David A. Kolb (2005) [18] họ dựa trên lý thuyết của John Dewey và Kurt Lewin, nhóm tác giả khám phá cách phát triển lý thuyết và nghiên cứu về trải nghiệm học tập có thể cải thiện học tập đại học. Họ giới thiệu khái niệm "không gian học tập" để hiểu mối liên hệ giữa phong cách học tập và môi trường học tập tổ chức. Ba nghiên cứu điển hình về phát triển được minh họa qua việc sử dụng khung không gian học tập.
Cuối cùng, nhóm tác giả đề xuất nguyên tắc để nâng cao trải nghiệm học tập đại học, thúc đẩy sự áp dụng HTTN vào môi trường giáo dục. 15 Đồ án Tốt nghiệp 16 Theo bài báo “Phong cách học tập và tính linh hoạt thích ứng: Kiểm tra lý thuyết học tập trải nghiệm” của Charalampos Mainemelis, Richard E. Boyatzis, and David A. Kolb (2002) [23] tập trung vào phân tích phong cách học tập và tính linh hoạt thích ứng với môi trường học tập đại học.