Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍNH GIÁ TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG 1. Tổng quan về phương pháp tính giá trên cơ sở hoạt động 1. Các khái niệm liên quan 1. Chi phí sản xuất Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm.
Để tiến hành sản xuất, doanh nghiệp cần ba yếu tố cơ bản của sản xuất đó là: tư liệu lao động, đối tượng lao động và lực lượng lao động. Mọi chi phí đều được biểu hiện dưới dạng giá trị, trong đó chi phí về tiền công là biểu hiện bằng tiền của hao phí về lao động sống, chi phí về nguyên vật liệu, điện, nước, … là biểu hiện bằng tiền của lao động vật hóa. Giá thành sản phẩm Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các chi phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ hoàn thành. Quá trình sản xuất là quá trình thống nhất bao gồm 2 mặt: chi phí sản xuất và kết quả sản xuất.
Tất cả các khoản chi phí phát sinh (phát sinh trong kỳ, kỳ trước chuyển sang) và các chi phí trích trước có liên quan đến khối lượng sản phẩm lao vụ, dịch vụ hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Nói cách khác, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra bất kể kỳ nào nhưng có liên quan đến khối lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ. Phương pháp tính giá trên cơ sở hoạt động Nhiều tác giả đưa ra khái niệm về phương pháp tính giá trên cơ sở hoạt động như sau: 9 Theo Krumwiede và Rohd (1997): phương pháp ABC là một hệ thống kế toán quản trị tập trung đo lường chi phí, các hoạt động, sản phẩm, khách hàng và các đối tượng chịu chi phí…Phương pháp này phân bổ chi phí cho các đối tượng chi phí dựa trên số lượng hoạt động sử dụng bởi đối tượng chịu chi phí đó. Kaplan (1998): phương pháp ABC được thiết kế nhằm cung cấp một cách thức phân bổ chi phí gián tiếp cho các hoạt động, quá trình kinh doanh, các sản phẩm và dịch vụ.
Trên thực tế, nhiều nguồn lực của doanh nghiệp không chỉ phục vụ cho việc cấu thành nên yếu tố vật chất của sản phẩm mà còn cung cấp nhiều hoạt động hỗ trợ để đưa các sản phẩm, dịch vụ đến với khách hàng. Mục tiêu của phương pháp ABC không phải là phân bổ chi phí chung cho các sản phẩm mà mục tiêu của ABC là đo lường và tính giá tất cả các nguồn lực sử dụng cho các hoạt động mà có thể hỗ trợ cho việc sản xuất và phân phối sản phẩm, dịch vụ đến với khách hàng. Theo Narcyz Roztocki (1999): ABC bao gồm hai giai đoạn: giai đoạn một phân bổ hoặc kết chuyển chi phí cho các hoạt động, giai đoạn hai sẽ phân bổ cho từng sản phẩm hay dịch vụ đã tiêu dùng. Theo Horngen (2000): phương pháp ABC là sự cải tiến của phương pháp tính giá truyền thống bằng việc tập trung vào các hoạt động cụ thể như là các đối tượng chi phí cơ bản.
Một hoạt động có thể là một sự kiện, một hành động hay là một công việc với mục đích riêng như thiết kế sản phẩm, lắp đặt máy móc hay phân phối sản phẩm. Hệ thống ABC tập hợp chi phí cho từng hoạt động và phân bổ chi phí cho từng sản phẩm hoặc dịch vụ dựa trên hoạt động được tiêu dùng bởi sản phẩm hay dịch vụ đó. Maher (2001) cho rằng ABC là một công cụ quản trị dựa trên hoạt động, trước hết, chi phí được phân bổ cho các hoạt động, sau đó sẽ phân bổ cho từng sản phẩm, dịch vụ dựa trên các hoạt động mà sản phẩm hay dịch vụ đã tiêu dùng. Quản trị dựa trên hoạt động sẽ tìm kiếm sự cải thiện không 10 ngừng.
ABC cung cấp thông tin về hoạt động và nguồn lực cần thiết để thực hiện chúng. Vì thế, ABC không chỉ đơn thuần là quá trình phân bổ chi phí. Tóm lại, ABC là hệ thống đo lường chi phí, tập hợp và phân bổ chi phí của các nguồn lực vào các hoạt động dựa trên mức độ sử dụng các nguồn lực, sau đó chi phí của các hoạt động được phân bổ đến các đối tượng tính giá dựa trên mức độ sử dụng của chúng. Tiến trình phát triển của phương pháp tính giá trên cơ sở hoạt động Khi mà hệ thống tính giá truyền thống tồn tại rất lâu, bộc lộ rất nhiều hạn chế và nó không phù hợp với thực tế.
Ngày nay chủng loại các mặt hàng đa dạng, chi phí sản xuất chung chiếm một phần đáng kể trong tổng chi phí sản xuất. Cơ sở lao động trực tiếp được sử dụng để phân bổ cho chi phí sản xuất chung không được tin dùng như trước đây. Hơn nữa, vào những năm 1980 với sự cạnh tranh dữ dội của toàn cầu, nhiều nhà quản lý đã đưa ra các quyết định sai lầm khi thiếu các thông tin chính xác về chi phí, từ đó đòi hỏi một phương pháp tính giá mới chính xác hơn nhằm khắc phục những nhược điểm của hệ thống tính giá theo phương pháp truyền thống, đó là phương pháp tính giá trên cơ sở hoạt động ra đời (phương pháp ABC). Robin Cooper và Robert.Kaplan, những người đề xướng nên thẻ cân bằng điểm (Balanced Scorecard), là những người đã đưa các khái niệm này trong một số bài báo xuất bản của Harvard Business Review bắt đầu từ năm 1988.
Cooper và Kaplan mô tả ABC là một cách tiếp cận để giải quyết vấn đề của hệ thống quản lý chi phí truyền thống. Hệ thống tính giá ABC lần đầu tiên được định nghĩa rõ ràng vào năm 1987 bởi Robert.Bruns trong một chương của quyển “Accounting and Management: A Field Study Perspective”. Họ tập trung vào ngành công nghiệp sản xuất đầu tiên, nơi mà tiến bộ công nghệ và sự gia tăng năng suất làm giảm tỉ lệ của chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân 11 công trực tiếp, tăng tỷ lệ của các chi phí gián tiếp. Kế toán quản trị đã chuyển đổi một cách mạnh mẽ trong hơn mười năm trở lại đây.
Quyển sách “Relevant cost: The Rise and Fall of Management Accounting” của hai tác giả Johnson và Kaplan năm 1987 đã nhận định về sự phát triển của kế toán quản trị cũng như thảo luận các vấn đề liên quan được xem là mốc phát triển của kế toán quản trị. Những chuyển đổi có thể nhận thấy rõ ở nhiều hướng như: những kỹ thuật mới về kế toán quản trị; sắp xếp, tổ chức lại hệ thống kế toán theo hướng mới và những ý tưởng mới về vai trò của kế toán quản trị trong một tổ chức. Liên tục 10 - 15 năm trở lại đây rất nhiều ấn phẩm về kế toán chi phí được phát hành, trong đó chủ yếu đề cập đến phương pháp ABC. Một số lượng lớn các ấn phẩm viết về phương pháp ABC dưới hình thức những bài báo ngắn đăng tải trên các tạp chí chuyên đề như Accountabcy, Harvard Business Review, Journal of Cost Management, Management Accounting (London) và Management Accounting (New York).
Các bài báo này có ý nghĩa chính yếu nhất khi xem xét sự tồn tại của toàn bộ các ấn phẩm viết về ABC, khi nó mô tả, bình luận về ABC trước đây và sự phát triển của học thuyết ABC cũng như gia tăng nổ lực thực hiện phương pháp ABC. Những năm 1990, ABC được xem là đề tài rất phổ biến trong nhiều hội nghị các nhà quản lý và các khóa đào tạo, huấn luyện và đặc biệt là đề tài rất nóng cho việc thực hiện quản lý trong thực tiễn. Hệ thống tính chi phí ABC sau này được giải thích rõ hơn vào năm 1999 bởi Peter.Drucker trong quyển “Management Challenges of the 21 st Century”. Bản chất của phương pháp tính giá trên cơ sở hoạt động ABC thực chất là một hệ thống thông tin kế toán nhằm vào việc xác định giá của sản phẩm hoặc dịch vụ, nó xác định các hoạt động của tổ chức và tập hợp các chi phí bằng cách xem xét bản chất và phạm vi của những hoạt 12 động đó.
ABC tính toán chi phí của sản phẩm hoặc dịch vụ dựa vào các hoạt động dùng để chế tạo, hoàn chỉnh, phân phối hay hỗ trợ các sản phẩm và dịch vụ đó. Trong phương pháp ABC, các hoạt động của doanh nghiệp trở thành các điểm tích lũy chi phí cơ bản. Chi phí liên kết với các hoạt động và hoạt động liên kết với sản phẩm. Quy trình tính giá ABC trong doanh nghiệp gồm các bước cơ bản sau: Phân tích hoạt động và xác định các nguồn lực sử dụng.
Phân bổ chi phí nguồn lực cho các hoạt động trong doanh nghiệp. Ưu, nhược điểm, điều kiện vận dụng và so sánh phương pháp ABC với phương pháp truyền thống 1. Ưu và nhược điểm 1. Ưu điểm - Khả năng quản lý chi phí của phương pháp ABC được đánh giá là tốt hơn so với phương pháp truyền thống.
Quản lý các hoạt động sẽ dẫn đến việc tái cấu trúc lại chuỗi giá trị với chi phí thấp nhất. - Phương pháp ABC tập trung đa chiều vào chi phí, điều này có thể thấy rõ ràng ở chi phí chung. Hầu hết hệ thống ABC cung cấp một báo cáo toàn diện, dễ hiểu về cấu trúc chi phí, mà hệ thống truyền thống không thể cung cấp được. - Khả năng sinh lợi từ khách hàng được xem là một sự mở rộng hợp lý của phương pháp ABC, thông qua việc cung cấp những triển vọng khác nhau về lợi nhuận khi mà lợi nhuận thực sự mang lại từ khách hàng chứ không phải từ sản phẩm.
- Sự vận dụng hệ thống ABC yêu cầu cần phải có một sự hiểu biết thấu đáo về cấu trúc chi phí của một tổ chức, mà thiết lập mô hình chi phí (cost modelling) và chi phí mục tiêu (target costing) có thể thực hiện mà không có một yếu tố bất thường nào xảy ra. - Một số quy trình quản lý như: quản lý chất lượng, quản lý thời gian và 13 quản lý năng lực sản xuất được thực hiện một cách dễ dàng hơn bởi một hệ thống ABC. - Quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh có thể chuyển đổi từ quản lý theo chức năng sang quản lý theo quy trình, sẽ phản ánh tốt hơn về chức năng thực sự của tổ chức. - Cơ sở phân bổ (cost driver) dựa trên những thủ tục rất chi tiết và hợp lý nên đảm bảo mức độ tin cậy rất cao vào chi phí.