CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN KẾ TOÁN 1.Khái niệm hạch toán kế toán Kế toán là môn khoa học độc lập thì hạch toán kế toán là một khoa học kinh tế ra đời và phát triển cùng với nền sản xuất xã hội và phục vụ trực tiếp cho nó. - Dưới góc nhìn một môn khoa học thì kế toán là một hệ thống thông tin thực hiện việc phản ánh, giám đốc các hoạt động thực tiễn sản xuất kinh doanh liên quan chặt chẽ tới lĩnh vực kinh tế, tài chính của một đơn vị bằng hệ thống phương pháp riêng, thông qua các thước đo: hiện vật, thời gian lao động và thước đo giá trị. Hay cụ thể hơn nó là một hệ thống quan sát đo lường tính toán xử lý, ghi chép các quá trình kinh tế nhằm quản lý và giám đốc các quá trình đó chặt chẽ. - Dưới góc nhìn là một nghề nghiệp thì kế toán là nghệ thuật ghi chép, tính toán và phản ánh bằng con số mọi hiện tượng kinh tế, tài chính phát sinh trong đơn vị nhằm cung cấp các thông tin toàn diện về tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình huy động và sử dụng vốn trong đơn vị.
Ở Việt Nam, theo điều 4 mục 1 Luật kế toán năm 2003 quy định: Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động.Hạch toán kế toán với công tác quản lý Trong hệ thống quản lý thông tin của một tổ chức kinh tế, mỗi bộ phận thông tin giữ một chức năng khác nhau và có mối quan hệ với nhau, chúng đều nhằm phục vụ cho công tác điều hành một cách có hiệu quả các cơ sở kinh doanh. Để quản lý, sử dụng các thông tin này, người ta tổ chức thành một hệ thống, gọi làhệ thống thông tin quản trị. Trong đó, với đối tượng là các dữ kiện về kinh tế tài chính, thông tin kế toán là hệ thống quan trọng nhất, cung cấp cho những người sử dụng một cách nhìn tổng quát về tình hình và khả năng kinh doanh của một tổ chức. Các đối tượng sử dụng thông tin kế toán: - Với người kế toán thì thông tin kế toán được sử dụng để lập kế hoạch, kiểm tra và đánh giá thực hiện.
- Với các nhà quản trị họ phải nắm bắt được tình hình hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của đơn vị, tiềm năng về tài chính, từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn và kịp thời, giúp kiểm soát, đánh giá hiệu quả các nguồn lực kinh tế thuộc quyền sử dụng và trách nhiệm quản lý của họ tại đơn vị. - Với các cơ quan chức năng mang tính chất nhà nước thì đưa ra các quyết định về thu nộp thuế và các nghĩa vụ khác của doanh nghiệp. Page 5 Đồ án môn học Nguyên lí kế toán Như vậy thông tin kế toán đóng vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý kinh tế, trong việc điều hành các tổ chức kinh doanh và là một tất yếu khách quan của nền sản xuất xã hội. Những nguyên tắc chung được thừa nhận trong hạch toán kế toán 3.
Nguyên tắc cơ sở dồn tích Chuẩn mực kế toán số 01- Chuẩn mực chung, quy định về cơ sở dồn tích như sau: “Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai”. Nguyên tắc hoạt động liên tục Đây là giả thiết quan trọng, liên quan đến việc lập báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Giả thiết hoạt động liên tục được quy định tại Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01- Chuẩn mực chung như sau: “Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, nghĩa là doanh nghiệp không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt động hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình.
Trường hợp thực tế khác với giả định hoạt động liên tục thì báo cáo tài chính phải lập trên một cơ sở khác và phải giải thích cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo tài chính”. Với giả định này, các loại tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng phải đánh giá theo giá gốc (giá hình thành nên tài sản), không được định giá theo giá thị trường. Giá thị trường chỉ có ý nghĩa nếu giá gốc lớn hơn giá thị trường hoặc với doanh nghiệp chuẩn bị phá sản, sáp nhập với doanh nghiệp khác… 3. Nguyên tắc giá gốc Việc tính toán giá trị tài sản, công nợ, vốn, doanh thu, chi phí phải dựa trên giá trị thực tế mà doanh nghiệp đã bỏ ra chứ không phản ánh theo giá thị trường đồng thời trong suốt thời gian tồn tại của đối tượng kế toán ở đơn vị kế toán đó, kế toán cũng không cần điều chỉnh giá của đối tượng kế toán theo sự thay đổi của giá thị trường.
Nguyên tắc giá gốc được quy định tại Chuẩn mực kế toán số 01- Chuẩn mực chung như sau: “Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của tài sản được tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận. Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể”. Nguyên tắc ghi nhận doanh thu Page 6 Đồ án môn học Nguyên lí kế toán Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được.
Nó được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được. Như vậy doanh thu phải được xác định bằng số tiền thực tế thu được và được ghi nhận khi quyền sở hữu hàng hóa bán ra được chuyển giao và khi các dịch vụ được thực hiện. Chuẩn mực kế toán số 14-Doanh thu và thu nhập khác quy định về điều kiện ghi nhận doanh thu bán hàng như sau: Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm điều kiện sau: - Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua. - Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa.
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn. - Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng. - Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. Xét trên góc độ tài chính thì thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng là khi quyền sở hữu sản phẩm, hàng hóa đã được chuyển giao hoặc dịch vụ đã được thực hiện và người mua đã chấp nhận thanh toán không kể đã thu được tiền hay chưa.
Nguyên tắc phù hợp Nguyên tắc này đòi hỏi việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan tới việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó. Như vậy, tất cả các chi phí phát sinh để tạo ra doanh thu ở kỳ nào cũng phải phù hợp với doanh thu được ghi nhận ở kỳ đó và ngược lại.
Sự phù hợp được xem xét trên 2 khía cạnh là thời gian và quy mô. Nguyên tắc nhất quán Nguyên tắc này yêu cầu trong công tác kế toán phải đảm bảo tính nhất quán về các nguyên tắc, chuẩn mực, về phương pháp tính toán giữa các kỳ kế toán. Nguyên tắc nhất quán nhằm đảm bảo thông tin kế toán có giá trị so sánh. Nếu cần thay đổi thì phải có thông báo để giúp người đọc báo cáo nhận biết được.
Nguyên tắc thận trọng Page 7 Đồ án môn học Nguyên lí kế toán Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu: Việc ghi tăng vốn chủ sở hữu chỉ được thực hiện khi có chứng cứ chắc chắn, ngược lại các khoản chi phí phải được ghi ngay khi mới có dấu hiệu phát sinh. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01- Chuẩn mực chung, nguyên tắc thận trọng đòi hỏi: - Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn. - Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập. - Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí.
- Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí. Nguyên tắc trọng yếu Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01- Chuẩn mực chung quy định: “Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính. Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính”.
Theo nguyên tắc này, người ta sẽ chú ý tới những vấn đề, đối tượng quan trọng, còn với các vấn đề nhỏ, không quan trọng thì có thể giải quyết theo chiều hướng đơn giản hoá. Nhiệm vụ và yêu cầu của hạch toán kế toán 4. Nhiệm vụ của kế toán Với chức năng phản ánh, kiểm tra các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, kế toán có những nhiệm vụ sau: - Ghi chép, phản ánh số hiện có, tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn, quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình sử dụng kinh phí (nếu có) của đơn vị.