CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về trung tâm nghiên cứu và bảo tồn sinh học 1. Khái niệm - Đa dạng sinh học: Một từ khái quát để chỉ về sự phong phú và đa dạng của các giống loài khác nhau trong tự nhiên. Các giống loài này bao gồm thực vật, động vật, vi sinh vật, các hệ sinh thái và các quá trình sinh thái mà các loài trên là một bộ phận trong đó.
- Lợi ích của đa dạng sinh học: Đa dạng sinh học đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc duy trì sự sống và ổn định của các hệ sinh thái trên Trái Đất. Dưới đây là một số vai trò của đa dạng sinh học: + Duy trì sự cân bằng sinh thái: Đa dạng sinh học giúp duy trì sự cân bằng giữa các loài trong hệ sinh thái, đảm bảo rằng không có loài nào phát triển quá mức và gây hại cho các loài khác. + Cung cấp nguồn tài nguyên thiên nhiên: Đa dạng sinh học cung cấp nguồn nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp, bao gồm lương thực, thực phẩm, dược phẩm và nguyên liệu xây dựng. + Bảo vệ môi trường: Các hệ sinh thái đa dạng giúp bảo vệ đất, nước và không khí khỏi ô nhiễm, đồng thời giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và thiên tai.
+ Tạo cảnh quan thiên nhiên: Đa dạng sinh học góp phần tạo nên cảnh quan thiên nhiên đẹp mắt, thu hút du lịch và mang lại giá trị kinh tế cho các khu vực có hệ sinh thái phong phú. + Hỗ trợ nghiên cứu khoa học: Đa dạng sinh học cung cấp nguồn tài nguyên quý giá cho nghiên cứu khoa học, giúp con người hiểu rõ hơn về sự sống và phát triển các công nghệ mới. - Nghiên cứu sinh học: Một lĩnh vực khoa học nghiên cứu về sự sống và các hệ thống sống trên Trái đất. Nó tập trung vào việc hiểu và khám phá về cấu trúc, chức năng, sự tiến hóa và tương tác của các hệ thống sống, từ các tế bào đơn giản đến các sinh vật phức tạp.
Nghiên cứu sinh học đóng vai trò quan trọng trong đời sống và khoa học. Nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bản chất của sự sống và cung cấp căn cứ khoa học cho việc giải 7 quyết các vấn đề liên quan đến sức khỏe con người, môi trường, nông nghiệp và công nghệ. Thông qua nghiên cứu sinh học, chúng ta có thể tìm hiểu về cơ chế hoạt động của cơ thể con người, phát triển các phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh, nghiên cứu về loài động vật và thực vật, tìm hiểu về quan hệ giữa các sinh vật và môi trường sống, và phát triển các sản phẩm và quy trình công nghệ mới dựa trên các nguyên tắc sinh học. Ý nghĩa của nghiên cứu sinh học là tạo ra kiến thức mới về sự sống và ứng dụng những kiến thức này trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Nghiên cứu sinh học cung cấp cơ sở lý thuyết và dữ liệu thực tế để phát triển các phương pháp và công nghệ trong y học, nông nghiệp, môi trường và công nghệ sinh học. Phạm vi nghiên cứu của nghiên cứu sinh học rất rộng. Nó bao gồm nghiên cứu về di truyền học, cấu trúc và chức năng của tế bào, sinh vật học phân tử, vi sinh học, sinh thái học và nhiều lĩnh vực khác. Nghiên cứu sinh học có thể được thực hiện trên cấp độ vi mô (như tế bào và phân tử) và cấp độ toàn cầu (như môi trường và sinh thái học).
Tổng kết lại, nghiên cứu sinh học là quá trình khám phá và hiểu về sự sống và các hệ thống sinh học. Nó có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra kiến thức mới và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Phạm vi nghiên cứu của nghiên cứu sinh học rất đa dạng, từ di truyền học đến sinh thái học và nhiều lĩnh vực khác. - Trung tâm nghiên cứu sinh học: Trung tâm nghiên cứu sinh học là một tổ chức hoặc đơn vị chuyên trách thực hiện các hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực sinh học, tập trung vào việc khám phá và hiểu biết về các hiện tượng sống, sinh vật, và hệ sinh thái.
Các trung tâm này có thể thuộc các trường đại học, viện nghiên cứu, hoặc tổ chức phi chính phủ, và thường tiến hành nghiên cứu cơ bản cũng như ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như di truyền, sinh thái, sinh lý học, và sinh hóa. Ngoài việc thực hiện các dự án nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu sinh học còn đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo nhân lực, tổ chức các hội thảo, hội nghị khoa học, và cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho cộng đồng nghiên cứu. Thông qua các hoạt động này, trung tâm không chỉ góp phần nâng cao kiến thức khoa học mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững và bảo tồn môi trường tự nhiên. - Bảo tồn đa dạng sinh học: 8 Việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền.
- Cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học: Cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng, cứu hộ, nhân giống loài hoang dã, cây trồng, vật nuôi, vi sinh vật và nấm đặc hữu, có giá trị; lưu giữ, bảo quản nguồn gen và mẫu vật di truyền phục vụ mục đích bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học. Trong đó, cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học được thành lập nhằm mục đích bảo tồn đa dạng sinh học, nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái, bao gồm: - Cơ sở nuôi, trồng loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; - Cơ sở cứu hộ loài hoang dã; - Cơ sở lưu giữ giống cây trồng, vật nuôi, vi sinh vật và nấm đặc hữu, nguy cấp, quý, hiếm có giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế, sinh thái, cảnh quan, môi trường hoặc văn hóa - lịch sử; cơ sở lưu giữ, bảo quản nguồn gen và mẫu vật di truyền. Tổng quan về điều kiện tự nhiên vườn quốc gia Cát Tiên. Giới thiệu chung Vườn Quốc gia Cát Tiên, với tổng diện tích rộng lớn là 70.548ha, là một điểm sáng của cả nước về cảnh quan tự nhiên và đa dạng sinh học.
Nằm giữa vùng biên giới của Trường Sơn và vùng đồng bằng Nam Bộ, Cát Tiên là sự hội tụ của những yếu tố địa lý, động-thực vật đặc biệt, tạo nên một môi trường sống phong phú và đa dạng. Cát Tiên được chia thành ba phần chính, với Cát Tiên (Đồng Nai) chiếm phần lớn với diện tích 39.110ha, là nơi đặt trụ sở của vườn và là điểm đón tiếp khách du lịch. Phần diện tích thuộc Lâm Đồng là 26.969ha và Bình Phước là 4. Hệ thực vật của Cát Tiên rất đa dạng, với khoảng 1.610 loài, bao gồm nhiều loại cây quý như gõ đỏ, gõ mật, cẩm lai Bà Rịa, giáng hương, và nhiều loài khác.
Các loại 9 rừng như rừng lá rộng thường xanh, rừng hỗn giao gỗ-tre nứa, và thảm thực vật đất ngập nước tạo ra một bức tranh thiên nhiên phong phú và hấp dẫn. Hệ động vật của vườn cũng rất phong phú, với 113 loài thú, 351 loài chim, 109 loài bò sát, 41 loài lưỡng cư và 756 loài côn trùng. Nhiều trong số đó là loài quý hiếm như chà vá chân đen, tê giác một sừng, hạc cổ trắng và cá sấu Xiêm. Đặc biệt, Cát Tiên còn có nhiều loại địa hình đặc trưng như các bàu, đầm, hệ suối, và hơn 90km sông Đồng Nai tạo ra những cảnh quan đẹp mắt với các ghềnh thác và khu đất ngập nước.
Khu vực Bàu Sấu đặc biệt nổi tiếng với quy mô rộng lớn và sự độc đáo, là điểm tham quan hấp dẫn. Vào ngày 10 tháng 11 năm 2001, UNESCO đã công nhận Vườn Quốc gia Cát Tiên là khu dự trữ sinh quyển thứ 411 trên thế giới. Vào ngày 04 tháng 8 năm 2005, khu đất ngập nước Bàu Sấu của vườn cũng được Công ước Ramsar công nhận và đưa vào danh sách các vùng đất ngập nước quan trọng quốc tế. Ngoài các giá trị tự nhiên, Cát Tiên còn là nơi sinh sống của hai cộng đồng dân tộc Mạ và Stiêng, với nền văn hóa đa dạng và phong phú.
Nơi đây còn là điểm đến của nhiều nhà khảo cổ học, với quần thể di chỉ kéo dài hơn 10km dọc theo sông Đồng Nai, bao gồm các thành phần kiến trúc của đền thờ từ thời cổ đại. Lịch sử hình thành 10 Năm 1975: Sau ngày tái lập hòa bình, rừng được Bộ Quốc phòng tiếp quản và giao cho một sư đoàn quân đội đồn trú và tăng gia sản xuất. Năm 1976: Nơi đây đã được Chính phủ đưa vào diện bảo tồn. Năm 1978: Khu rừng này được Chính phủ quyết định trở thành rừng cấm với diện tích chỉ 31.000ha, thuộc địa phận huyện Tân Phú, Đồng Nai.
Đồng thời, UBND tỉnh Đồng Nai cũng quyết định thành lập Hạt Kiểm lâm trực thuộc chi cục kiểm lâm Đồng Nai do một sĩ quan quân đội tạm thời làm Hạt trưởng. Năm 1986: Tỉnh Đồng Nai thành lập Ban quản lý Rừng cấm Nam bãi Cát Tiên. Toàn bộ các đơn vị quân đội đồn trú rút ra khỏi khu bảo tồn. Tháng 2 năm 1998: Chính phủ ra quyết định thành lập Vườn quốc gia Cát Tiên với diện tích được nâng lên 73.
Vườn do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý. Hiện nay: Theo quyết định số 173/2003/QĐ-TTg, diện tích của Vườn là 71. Đơn vị trực tiếp quản lý Vườn là Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Ngày 10 tháng 11 năm 2001: Vườn quốc gia Cát Tiên được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thứ 411 và là khu dự trữ sinh quyển thứ 2 của Việt Nam.
Ngày 04 tháng 08 năm 2005: Khu đất ngập nước Bàu Sấu của Vườn được Ban thư ký Công ước Ramsar công nhận đưa vào danh sách các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế. Đây là khu đất ngập nước thứ 1.499 của thế giới và là khu thứ hai của Việt Nam. Điều kiện tự nhiên. Vị trí địa lý, địa hình - Vị trí địa lý: Cách TP.
Hồ Chí Minh 150 km về phía bắc. Vườn quốc gia Cát Tiên nằm ở khu vực có toạ độ từ 11°20′50" tới 11°50′20" vĩ bắc, và từ 107°09′05" tới 107°35′20" kinh đông, trên địa bàn của ba tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai và Bình Phước với tổng diện tích là 71.