Chương 1 LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH TỘI DANH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm, ý nghĩa của định tội danh 1. Khái niệm định tội danh Định tội danh là một vấn đề không phải là mới nhưng đối với những người làm công tác điều tra, truy tố, xét xử trong hoạt động tố tụng hình sự thì đây lại là vấn đề thời sự, có ý nghĩa vô cùng quan trọng được quan tâm hàng đầu. Bởi vì có xác định tội danh đúng mới áp dụng pháp luật hình sự đúng, ra bản án mới đúng pháp luật, người phạm tội mới cúi đầu nhận tội và mới đạt được yêu cầu của việc xét xử là xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Quá trình áp dụng các quy phạm PLHS trên thực tế diễn ra phức tạp và đa dạng, được thể hiện ở 3 giai đoạn như sau: Định tội danh, định khung hình phạt, và quyết định hình phạt. Trong đó, định tội danh là một giai đoạn quan trọng nhất trong ba giai đoạn trên bởi vì định tội danh được tiến hành và thực hiện ở tất cả các giai đoạn của cả quá trình TTHS từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đến giai đoạn thi hành án. ĐTD là một trong những biện pháp đưa nội dung của Bộ luật hình sự vào đời sống xã hội, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, qua đó góp phần thực hiện đường lối chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta. ĐTD là sự xác nhận về mặt pháp lý sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện trong thực tế khách quan với các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm tương ứng được quy định trong Bộ luật hình sự.
Hay nói cách khác, ĐTD là việc xác định một hành vi cụ thể đã 8 thực hiện thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của tội nào trong số các tội phạm đã được quy định trong BLHS. Do đó có thể đưa ra khái niệm ĐTD như sau: Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã thực hiện với dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được quy định trong BLHShttps://hocluat.vn/wiki/bo-luat-hinh-su/. Ý nghĩa của hoạt động định tội danh a. Đối với hoạt động định tội danh đúng ĐTD đúng là tiền đề cho việc phân hoá TNHS và cá thể hoá hình phạt một cách công minh, có căn cứ pháp luật.
ĐTD đúng sẽ đảm bảo cho việc thực hiện các nguyên tắc tiến bộ được thừa nhận trong hệ thống pháp luật nói chung của Nhà nước pháp quyền như: nguyên tắc pháp chế, trách nhiệm do lỗi cá nhân, bình đẳng trước pháp luật hình sự, nguyên tắc công bằng, nguyên tắc nhân đạo. ĐTD đúng thể hiện hoạt động có hiệu quả ý thức tuân thủ pháp luật triệt để cũng như ý thức trách nhiệm trong hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền, từ đó góp phần hiệu quả vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm từ đó nâng cao uy tín, chất lượng hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cũng như hỗ trợ cho việc củng cố và tăng cường pháp chế XHCN [9, tr 21]. ĐTD đúng là một trong những cơ sở để áp dụng chính xác các quy phạm pháp luật TTHS Việt Nam về tạm giam, về thẩm quyền điều tra, xét xử cũng như một số hoạt động tố tụng khác qua đó góp phần hữu hiệu cho việc đảm bảo, bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự. ĐTD đúng sẽ dẫn đến việc quyết định hình phạt đúng, là tiền đề cho việc ban hành một bản án đúng, chính xác, phù hợp với mức độ nguy hiểm 9 cho xã hội của hành vi phạm tội, khiến bị cáo cũng như những người tham dự phiên tòa nói riêng, xã hội và công luận nói chung nhận thức đầy đủ về tính nghiêm minh, công bằng, khách quan của pháp luật từ đó nâng cao hiệu quả tuân thủ, chấp hành pháp luật góp phần tăng cường hiệu quả công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật cho nhân dân.
ĐTD đúng sẽ đảm bảo hiệu quả hoạt động trấn áp tội phạm trên thực tế. Đối với hoạt động ĐTD sai ĐTD sai sẽ dẫn đến một loạt các hậu quả tiêu cực như: không đảm bảo được tính công minh có căn cứ của pháp luật, truy cứu TNHS người vô tội, bỏ lọt người phạm tội, xâm phạm thô bạo danh dự nhân phẩm cũng như các quyền tự do dân chủ của công dân - là giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận trong Nhà nước. ĐTD sai làm giảm uy tín của cơ quan tư pháp, vi phạm pháp chế XHCN, làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, với pháp luật XHCN từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Những vụ án oan sai xảy ra trên thực tế phần lớn là do ĐTD chưa chính xác mà nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ việc đánh giá chứng cứ phiến diện, thiếu thận trọng, nôn nóng khởi tố, bắt tạm giam hoặc do suy diễn chủ quan của những người tiến hành tố tụng [8, tr 11 – 12].
Lý luận về định tội danh Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc định tội danh Lừa đảo chiếm đoạt tài sản 1. Khái niệm định tội danh Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ĐTD là một quá trình tư duy logic, là việc các chủ thể có thẩm quyền xem xét, đánh giá sự phù hợp giữa hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế với các yếu tố cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS nhằm quyết định 10 hình phạt tương xứng với mức độ của hành vi phạm tội. Do đó, ĐTD Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quá trình các chủ thể có thẩm quyền xem xét, đánh giá và sử dụng các quy định của PLHS và PLTTHS xác định hành vi của người phạm tội có thỏa mãn các yếu tố cấu thành của Tội LĐCĐTS được quy định tại Điều 174 BLHS hay không, từ đó quyết định mức hình phạt tương ứng phù hợp với mức độ, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
Như vậy, dựa trên cơ sở quy định tại Điều 8 BLHS, Điều 174 BLHS và các quy định của BLTTHS có thể hiểu định tội danh Tội LĐCĐTS như sau: Định tội danh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự theo trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng hình sự quy định của các chủ thể có thẩm quyền được tiến hành trên cơ sở thu thập các tài liệu, chứng cứ để xác định hành vi chiếm đoạt tài sản, có hay không có sự phù hợp giữa hành vi đã xảy ra với các dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự để phán quyết làm tiền đề cho việc giải quyết các vấn đề liên quan đến hình phạt và các biện pháp cưỡng chế hình sự khác. Đặc điểm của định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Từ định nghĩa trên có thể rút ra các đặc điểm của định tội danh Tội LĐCĐTS như sau: Thứ nhất, ĐTD tội LĐCĐTS là hoạt động có tính logic nhằm xác định có hay không sự tương đồng giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện và các dấu hiệu của Tội LĐCĐTS được quy định tại Điều 174 BLHS. Tính logic của quá trình định tội danh Tội LĐCĐTS được thể hiện ở quá trình các cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động cần thiết trước khi đưa ra kết luận về tội danh của người thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đó là quá trình so sánh, đối chiếu sự phù hợp giữa hành vi với các yếu tố cấu 11 thành tội phạm của Điều 174 BLHS để tìm ra điểm tương đồng. Từ đó kết luận hành vi đó có phải tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không? Thứ hai, quá trình hoạt động định tội danh Tội LĐCĐTS phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy phạm pháp luật của BLHS cũng như các quy phạm pháp luật của BLTTHS mà cụ thể là các cơ quan tiến hành tố tụng cụ thể hoá các QPPLHS vào đời sống thực tế.
Trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết của hành vi phạm tội đã thực hiện để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng quy định tại Điều 174 BLHS. Có thể nói đây là quá trình rất phức tạp và dễ nhầm lẫn. Chính vì vậy, để thực hiện được quá trình này có hiệu quả các cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân thủ những quy định của BLHS và BLTTHS, bên cạnh đó các cơ quan này cũng có thể sử dụng các biện pháp nghiệp vụ mà pháp luật cho phép để xác định chính xác hành vi phạm tội LĐCĐTS. Đó là cơ sở để đưa ra mức hình phạt hợp lý nhất đối với người phạm tội.
Thứ ba, với tư cách là một dạng của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự định tội danh Tội LĐCĐTS phải đảm bảo tính chính xác, khách quan tuyệt đối. Mọi hành vi ĐTD sai sót dù là nhỏ nhất cũng có thể dẫn tới hậu quả lớn cho cá nhân, gia đình và xã hội, do đó hoạt động này cần được tiến hành tuần tự qua các bước là: Xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra trên thực tế. Tiếp theo là lựa chọn đúng điều khoản tương ứng trong Phần các tội phạm của BLHS quy định trách nhiệm đối với tội phạm LĐCĐTS để so sánh, đối chiếu và kiểm tra các dấu hiệu của cấu thành tội phạm này với các tình tiết cụ thể của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện. Cuối cùng là ra văn bản áp dụng pháp luật, trong đó đưa ra kết luận có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục về sự phù hợp của hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt đã 12 được thực hiện trong thực tế khách quan với cấu thành tội phạm cụ thể tại Điều 174 BLHS.
Thứ tư, ĐTD đối với Tội LĐCĐTS là hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mang tính áp đặt một chiều đối với đối tượng bị áp dụng.