phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận về định tội danh và quyết định hình phạt đối với các tội vô ý làm chết ngƣời theo pháp luật hình sự Việt Nam. Chƣơng 2: Cơ sở pháp lý hình sự và thực tiễn định tội danh, quyết định hình phạt đối với các tội vô ý làm chết ngƣời. Chƣơng 3: Các giải pháp nâng cao chất lƣợng định tội danh và quyết định hình phạt đối với các tội vô ý làm chết ngƣời. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI CÁC TỘI VÔ Ý LÀM CHẾT NGƢỜI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.
Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của các tội vô ý làm chết ngƣời.1 Tội vô ý làm chết người 1. Khái niệm Trong khoa học hình sự Việt Nam có nhiều quan niệm khác nhau về tội vô ý làm chết ngƣời. Quan điểm thứ nhất cho rằng “vô ý làm chết người là hành vi của một người làm cho người khác chết với lỗi vô ý” [18, tr. Quan điểm này về tội vô ý làm chết ngƣời không đề cập đến dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và các dấu hiệu của chủ thể đối với tội phạm này.
Mặt khác, khái niệm này cũng không có sự phân tách giữa khái niệm và nội hàm của khái niệm, đồng thời không thể hiện đƣợc nội hàm của khái niệm. Theo quan điểm của Thẩm phán, Th.S Đinh Văn Quế thì: “Vô ý làm chết người là hành vi của một người không thấy trước được hành vi của mình có khả năng gây ra chết người mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hoặc tuy thấy trước nhưng tin rằng hậu quả đó không xảy ra” [26, tr. Khái niệm này đã nêu đƣợc nội dung của hai hình thức lỗi vô ý vì quá tự tin và vô ý vì cẩu thả trong yếu tố lỗi vô ý. Tuy nhiên, có thể thấy khái niệm này đƣa ra việc xác định hình thức lỗi hơn là đƣa ra một khái niệm đầy đủ để cá biệt hóa hành vi vô ý làm chết ngƣời với các tội phạm khác cũng có dấu hiệu vô ý làm chết ngƣời.
Về mặt hậu quả của hành vi, khái niệm này chƣa nêu hậu quả của hành vi đó là phải gây ra cái chết cho ngƣời khác – dấu hiệu bắt buộc của tội vô ý làm chết ngƣời mà lại sử dụng cụm từ “khả năng gây ra cái chết” tức là “chết ngƣời” ở đây mới chỉ ở dạng tiềm năng. Đồng thời, giống với quan điểm thứ nhất, khái niệm này cũng chƣa đề cập đến dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và các dấu hiệu của chủ thể đối với tội phạm này. Ranh giới giữa hành vi của tội vô ý làm chết ngƣời với các hành vi của các tội phạm 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khác cũng có dấu hiệu vô ý làm chết ngƣời (nhƣ Tội làm chết ngƣời trong thi hành công vụ, Tội làm chết ngƣời do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, Tội vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ dẫn đến hậu quả chết ngƣời…) cũng chƣa đƣợc làm rõ. Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Ngọc Hòa và Lê Thị Sơn trong “Từ điển pháp luật hình sự”, thì: “Vô ý làm chết ngƣời là trƣờng hợp vô ý gây ra hậu quả chết ngƣời do vi phạm quy tắc an toàn về tính mạng, sức khỏe trong những lĩnh vực khác nhau của hoạt động chung xã hội.
Những quy tắc này có thể đã đƣợc quy phạm hóa hoặc có thể chỉ là những quy tắc xử sự xã hội thông thƣờng đã trở thành nếp quen sinh hoạt, mọi ngƣời đều biết và thừa nhận. Trong Bộ luật fhình sự có nhiều tội danh khác nhau đƣợc quy định cho hành vi vô ý làm chết ngƣời tùy thuộc vào lĩnh vực có quy tắc an toàn mà chủ thể đã vi phạm. Các trƣờng hợp vô ý làm chết ngƣời do vi phạm quy tắc an toàn công cộng (an toàn giao thông, an toàn lao động, an toàn trong xây dựng, an toàn trong quản lý vũ khí…) đƣợc quy định thành những tội danh khác nhau thuộc nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng. Tội vô ý làm chết ngƣời đƣợc quy định trong Chƣơng “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con ngƣời” gồm những trƣờng hợp vô ý làm chết ngƣời còn lại chƣa đƣợc quy định thành các tội riêng” [14, tr.
Quan điểm này đã cụ thể hóa hơn hành vi vô ý làm chết ngƣời so với các quan điểm trƣớc nhƣng lại vẫn thiếu dấu hiệu chủ thể của tội phạm. Để đƣa ra khái niệm về tội vô ý làm chết ngƣời một cách chính xác, đầy đủ hơn, ta có thể phân tích các khía cạnh sau: - Hành vi vô ý làm chết ngƣời để xác định tội phạm và hình phạt theo quy định BLHS hiện hành với tội danh “Tội vô ý làm chết ngƣời” là hành vi vô ý gây ra cái chết cho ngƣời khác trong điều kiều kiện sinh hoạt thông thƣờng do vi phạm quy tắc an toàn nhằm đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe cho con ngƣời. Các quy tắc này thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể đƣợc quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hoặc là những quy tắc xử sự thông thƣờng đã trở thành tập quán sinh hoạt, đƣợc mọi ngƣời thừa nhận. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Hậu quả của hành vi vi phạm là dẫn đến hậu quả chết ngƣời, đây là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm tội vô ý làm chết ngƣời.
Hậu quả chết ngƣời là rất nghiêm trọng bởi tính mạng con ngƣời là giá trị quan trọng hang đầu đƣợc pháp luật hình sự bảo vệ. Do vậy, việc quy định hậu quả chết ngƣời là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của tội này mới thể hiện đƣợc tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi “vô ý làm chết ngƣời”. Giữa hành vi “vô ý làm chết ngƣời” và hậu quả chết ngƣời phải có mối quan hệ nhân quả với nhau. Hậu quả chết ngƣời đã xảy ra phải là hậu quả tất yếu của hành vi vi phạm quy tắc bảo đảm an toàn đó gây ra.
- Về yếu tố lỗi trong cấu thành tội vô ý làm chết ngƣời: lỗi là dấu hiệu bắt buộc của mọi tội phạm đƣợc quy định trong luật hình sự, không có lỗi sẽ không có tội phạm. Khi con ngƣời có đủ các điều kiện để lựa chọn, tự do điều khiển hành vi mà họ lại lựa chọn hành vi phạm tội tức là họ đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi phạm tội ấy [48,tr. Đối với tội vô ý làm chết ngƣời, tội phạm đƣợc thực hiện với hình thức lỗi vô ý khi gây ra hậu quả chết ngƣời. Ngƣời phạm tội có thể thực hiện tội phạm do vô ý vì quá tự tin – là trƣờng hợp ngƣời phạm tội nhận thức đƣợc hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, có thể gây ra hậu quả chết ngƣời nhƣng đã quá tự tin cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra nhƣng thực tế hậu quả đó vẫn xảy ra.
Hoặc ngƣời phạm tội có thể thực hiện tội phạm do vô ý vì cẩu thả - là trƣờng hợp ngƣời phạm tội không thấy trƣớc đƣợc hậu quả chết ngƣời do hành vi của mình gây ra mặc dù họ phải thấy trƣớc và có đủ điều kiện thấy trƣớc hậu quả đó. - Ngoài các đặc trƣng riêng về hành vi, hậu quả, về yếu tố lỗi của tội Vô ý làm chết ngƣời thì yếu tố chủ thể của tội phạm cũng cần phải đƣợc nêu trong khái niệm của tội phạm này. Chủ thể của tội Vô ý làm chết ngƣời là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu TNHS. Kế thừa các quan điểm đã nêu và từ sự phân tích ở trên có thể đƣa ra khái niệm về Tội vô ý làm chết ngƣời nhƣ sau: Tội vô ý làm chết người là hành vi gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật (trong điều kiện sinh hoạt bình thường) của người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật hình sự khi người này không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả chết người hoặc tuy thấy trước hành vi của 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mình có thể gây ra hậu quả chết người nhưng cho rằng hậu quả chết người sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được và trên thực tế hậu quả chết người đã xảy ra.
Các dấu hiệu pháp lý. Dấu hiệu pháp lý hay dấu hiệu cấu thành của một loại tội phạm có tính đặc trƣng và điển hình cho loại tội phạm ấy, nó phản ánh đầy đủ bản chất và dùng để phân biệt tội phạm này với các tội phạm khác. Việc làm rõ khái niệm và phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội vô ý làm chết ngƣời đƣợc thể hiện qua bốn yếu tố cấu thành tội phạm là khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm. * Khách thể của tội phạm: Tội vô ý làm chết ngƣời đƣợc quy định tại Điều 98 BLHS năm 1999 thuộc Chƣơng XII “Các tội xâm phạm tính mạng, danh dự, nhân phẩm, danh dự của con ngƣời” và là một tội phạm nằm trong nhóm xâm phạm tính mạng của con ngƣời.
Tội vô ý làm chết ngƣời xâm phạm đến quyền sống của con ngƣời. Quyền sống (hay quyền đƣợc sống) là quyền cơ bản và quan trọng nhất của con ngƣời, đây cũng là một trong những nội dung quan trọng của Nhân quyền. Điều 19 Hiến pháp 2013 quy định: "Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ.
Không ai bi ̣ tước đoạt tính mạng trái luật. Hành vi của tội phạm trong trƣờng hợp này tác động đến con ngƣời đang sống, trong điều kiện sinh hoạt thông thƣờng, gây nên sự biến đổi trạng thái của con ngƣời từ một cơ thể đang sống, đang tồn tại trong thế giới khách quan chuyển sang trạng thái chấm dứt và mất khả năng sống. “Sống” ở đây theo Từ điển Tiếng Việt là tồn tại ở hình thức có sự trao đổi với môi trƣờng, có sự sinh trƣởng, phát triển. Cuộc sống của con ngƣời đƣợc tính từ thời điểm đứa trẻ đƣợc sinh ra cho đến khi sự sống thực sự chấm dứt.
Và quyền sống của con ngƣời đƣợc tính từ thời điểm bắt đầu sự sống cho đến khi con ngƣời đó chấm dứt hoàn toàn sự sống.