CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH TỘI DANH CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999 1.Luận định tội danh 1. Khái niệm, các loại và ỷ nghĩa của định tội danh. Khái niệm định tội danh Định tội danh là một trong những giai đoạn cơ bản của quá trình áp dụng pháp luật, áp dụng pháp luật là một quá trình phức tạp được tiến hành qua nhiều giai đoạn khác nhau như: giải thích pháp luật, xác định hiệu lực pháp luật về không gian và thời gian, định tội danh, quyết định hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự. Định tội danh là cách thức đưa các quy phạm pháp luật hình sự vào cuộc sống và còn là cơ sở cho việc áp dụng các quy phạm pháp khác của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự.
Tuy nhiên, khái niệm và đặc điểm định tội danh, chưa được quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999, mà hiện còn nhiều quan điểm: Quan điểm thứ nhất cho rằng: "Định tội danh là quá trình nhận thức lỷ luận có tính logic, là dạng của hoạt động thực tiên áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lỷ hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật”1. Theo quan điểm trên, định tội danh trước hết là quá trình nhận thức lý luận có tính logic, có nghĩa là khi tiến hành định tội danh phải tuân theo các quy luật nhận thức nhất định, là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự, hoạt động này là do các chủ thể có thẩm quyền tiến hành theo quy định và được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự được thu thập theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự, để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm (CTTP) tương ứng do luật hình sự quy định nhằm đạt được sự thật khách quan. Quan điểm thứ hai cho rằng: “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lỷ sự phù hợp chính xác giữa các dấu hi ệu c ủa hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hi n với các dấu hi u c a cấu th nh tội phạm đã được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự” 2. Theo quan điểm này, định tội danh được hiểu là việc xác nhận và ghi nhận sự phù hợp giữa những trường hợp phạm tội cụ thể đang xem xét với các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự thuộc Phần các tội phạm của BLHS, đó là việc đánh giá nhất định về mặt pháp lý đối với một hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Tuy nhiên, quan điểm này chưa phản ánh được định tội danh là một quá trình nhận thức có tính logic, định tội danh phải dựa trên những cơ sở nào và nhằm mục đích gì. Quan điểm thứ ba cho rằng: “Định tội danh là việc xác nhận về mặt pháp lỷ sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã được thực hiện với các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng được quy định tron Bộ luật hình sự”3. Theo quan điểm này thì định tội danh là việc xác 1 Xem: Lê Cảm (2004), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 2 Xem: Võ Khánh Vinh (2003), Giáo trình lí luận chung về định tội danh, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.
3 Xem: Phạm Văn Beo (2010), Luật hình sự Việt Nam - Quyển 2 (Phần các tội phạm), NXB Chính trị quốc định một hành vi cụ thể đã thực hiện thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của một tội phạm cụ thể nào đó trong số các tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự. Để định tội danh cho một hành vi cụ thể, người áp dụng pháp luật hình sự phải căn cứ vào các cấu thành tội phạm được rút ra từ những quy định của Bộ luật hình sự. Nếu một hành vi phạm tội phù hợp với các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS, thì hành vi đó được xác định theo tội danh của cấu thành tội phạm đó. Tuy nhiên, quan điểm này cũng như quan điểm thứ hai chưa thể hiện được căn cứ của việc định tội danh được thực hiện trên cơ sở nào, và chưa phản ánh định tội danh đó là một quá trình nhận thức có tính logic.
Trong số các quan điểm khác nhau về khái niệm định tội danh, theo chúng tôi quan điểm thứ nhất là đầy đủ và có cơ sở hơn bởi lẽ: Thứ nhất, định tội danh là quá trình nhận thức: định tội danh là một hoạt động nhận thức tư duy logic và chặt chẽ, là một quá trình nhận thức từ những điều đã biết để xác định những vấn đề chưa biết và quá trình đó dựa trên cơ sở sử dụng các phương pháp nhận thức như: phương pháp quan sát, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh và các quy luật logic như: quy luật đồng nhất, quy luật mâu thuẫn, quy luật bài trung và quy luật lý do đầy đủ. Quá trình nhận thức đó bao gồm: làm rõ sự thật khách quan, lựa chọn quy phạm pháp luật, đánh giá vụ án trên bình diện pháp lý. Quá trình này được hợp thức hóa bằng thủ tục tố tụng hình sự dưới dạng các văn bản tố tụng hình sự. Thứ hai, định tội danh là hoạt động áp dụng pháp luật, là một dạng của hoạt động áp dụng pháp luật, định tội danh được hiểu là việc xác định bằng thủ tục hình sự, sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định, cấu thành tội phạm có ý nghĩa, vai trò như thế nào với định tội danh sẽ được phân tích trong phần sau.
Hoạt động định tội danh của những người tiến hành tố tụng gia, Cần Thơ, tr. có những nét đặc thù tùy thuộc vào chức năng tố tụng mà họ thực hiện: Điều tra viên phạm vi định tội danh rất rộng; đại diện của Viện kiểm sát phạm vi hoạt động của Viện kiểm sát khá rộng nhưng vẫn bị giới hạn bởi những bằng chứng đã được thu thập trong hồ sơ; Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phạm vi hoạt động định tội danh hẹp vì Tòa án chỉ được định tội danh đối với những hành vi bị Viện kiểm sát truy tố và phải tuân thủ giới hạn xét xử. Thứ ba, định tội danh là sự đánh giá pháp lý hình sự đối với một hành vi nguy hiểm cho xã hội mà người có thẩm quyền đang xem xét, xác định hành vi quy định ở điều nào của BLHS. Với ý nghĩa là kết quả của hoạt động áp dụng pháp luật, định tội danh là đánh giá pháp lý hình sự của một chủ thể đối với một hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện trên thực tế, nghĩa là kết luận về tên tội phạm, điều luật cần áp dụng đối với trường hợp phạm tội cụ thể.
Như vậy, định tội danh đó là một quá trình nhận thức logic, một dạng hoạt động của thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự được tiến hành bằng cách, trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được, xác định sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định, nhằm đạt được sự thật khách quan của vụ việc. Định tội danh là một quá trình gồm các bước sau: Bước thứ nhất: xác định các tình tiết thực tế của vụ án. Đó là quá trình xem xét, đánh giá tất cả các chứng cứ của vụ án để tìm ra sự thật khách quan và chỉ trên cơ sở những tình tiết khách quan đó, việc định tội danh mới được tiến hành. Việc thu thập các tình tiết của vụ án phải đảm bảo tính đầy đủ, tính toàn diện và tính liên quan đến vụ án.
Đồng thời việc thu thập các tình tiết khách quan phải chính xác, trung thực, khách quan, khoa học và người định tội danh phải giải thích được những mâu thuẫn giữa các chứng cứ trong một vụ án hình sự. Bước thứ hai: nhận thức đúng nội dung của các quy định trong BLHS. Bước này đòi hỏi người định tội danh phải có sự hiểu biết và nhận thức đúng đắn, sâu sắc về các quy định của BLHS bao gồm cả những quy định Phần chung, Phần các tội phạm cụ thể của BLHS cũng như những văn bản dưới luật có liên quan. Yêu cầu đặt ra đối với việc nhận thức đúng nội dung của các quy định trong BLHS là cần nắm vững quy định của pháp luật hình sự về các tội phạm cụ thể, các cặp CTTP có mối quan hệ đặc biệt.
Đồng thời, phải dự kiến tất cả các CTTP có thể là căn cứ pháp lý đối với hành vi phạm tội cụ thể. Bước thứ ba: xác định mối quan hệ giữa các dấu hiệu thực tế và các dấu hiệu được quy định trong luật. Trên cơ sở bước thứ nhất và bước thứ hai, người định tội danh sẽ đối chiếu các tình tiết của vụ án với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong luật. Nếu hoàn toàn phù hợp thì phải kết luận hành vi đã thực hiện phạm tội đó chứ không phải phạm tội khác.
Nếu không phù hợp thì phải xem xét hành vi này có thỏa mãn tội khác không? Hay hành vi đó không có tội.