ĐẶT VẤN ĐỀ - LÍ ĐO CHỌN ĐỀ TÀI, MỤC TIÊU, NỘI DUNG NGHIÊN CỨU. Lí do chọn đề tài. Như trên đã trình bày, vấn để khai thác những điều kiện tự nhiên, nhân văn của một vùng lãnh thổ cho mục đích du lịch đã được chú ý trong nước và trên thế giới. Vùng DBSCL, với địa hình vùng sông nước khá đa dạng về mặt sinh thái, sông rạch, đất vườn, biển, đảo.
cũng đã được nhiều tác giả để cập với nhiều góc độ khác nhau : nghiên cứu về kinh tế — xã hội môi trường vùng lũ, khai thác những điều kiện tự nhiên phục vụ DLST (Phan Huy Xu, Trần Văn Thành; 1998). Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chỉ ra các định hướng chung cho qui hoạch phát triển, sống chung với lũ, chưa đưa ra các cơ sở khoa học cho việc khai thác DLST theo hướng bền vững. Để khai thác DLST cùng DBSCL một cách có hiệu quả và bển vững, cần thiết phải định hứơng thiết kế cụ thể, khai thác tổng hợp điều kiện tự nhiên và nhân văn của vùng. Vì vậy, để bổ sung vào sự chưa hoàn thiện của các công trình nghiên cứu trước đây, việc nghiên cứu “Góp phần định hướng qui hoạch DLST vùng đông bằng sông Cửu Long ” đặt ra 2 vấn đề: (Ù Xây dựng hệ thống chỉ tiêu hợp lí đánh giá tài nguyên DLST, cung cấp những cơ sở khoa hoc cho viéc qui hoạch DLST vùng DBSCL.
(ii) Dé xudt cdc dinh huéng qui hoạch DLST thông qua việc xác định các điểm, tuyến, cụm, trung tâm DLST của vùng. Những kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các cơ quan chức năng quần lí những cơ sở khoa học để phát triển DLST bền vững. Mục tiêu nghiên cứu. Đề tài đặt ra 2 mục tiêu cơ bản : () Đánh giá tiềm năng tài nguyên DLST của vùng thông qua việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu hợp lí, có căn cứ khoa học.
Báo cáo khoa học Chủ nhiệm đề tài: Ths. Trần Văn Thành (ii) Thu nhập và bổ sung các tư liệu tiềm năng tự nhiên, nhân văn của vùng nhằm đề xuất các định hướng qui hoạch DLST của vùng DBSCL theo hướng bền vững. Những kết quả nghiên cứu của để tài không nhằm xây dựng một để án qui hoạch. Đề tài hướng tới 2 mục tiêu chung là: (Ù Cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các dự án phát triển DLST vùng ĐBSCL.
(ii) BO sung tai ligu giảng dạy cho các môn học về địa sinh thái cảnh quan ứng dụng, địa lí DLST. Nội dung nghiên cứu. Để đạt đựơc những mục tiêu đặt ra trong để tài thực hiện các nội dung cơ bản sau đây : () Đánh giá tình hình khai thác TNDLST, hiện trạng phát triển du lịch và khai thác DLST hiện nay của vùng ĐBSCL được trình bày khái quát trên cơ sở các tài liệu sưu tâm và khảo sát thực tế. Phần này nêu ra các đánh giá theo cách tiếp cận quản lí du lich toàn diện, bao gồm cả nhu cầu biện trạng quản lí, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, thống kê số lượng khách du lịch quốc tế đến ĐBSCL thời kỳ 1995 — 2001.
Các kết quả nghiên cứu trình bày trong chương 2 () Nghiên cứu xây dựng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá và thực hiện việc đánh giá tiềm năng DLST. Các kết quả dánh giá sẽ tạo cơ sở khoa học cho các đề xuất định hướng thiết kế và qui hoạch lãnh thổ DLST theo hướng bền vững. Bên cạnh đó, Các kết quả và đánh giá tài nguyên DLST trình bày trong chương 2. (iii) Những kết quả trình bày trong chương3 là các đề xuất của tác giả trong việc cung cấp những cơ sở khoa học cho việc thiết kế và qui hoạch các tuyến, cụm, điểm DLST trong vùng DBSCL theo hướng bên vững.
Trong phần phụ luc mé té các điểm tài nguyên DLST có ý nghĩa quốc tế và quốc gia ở vùng DBSCL. PHƯƠNG PHÁP LUẬN, GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI. Để làm rõ những kết quả nghiên cứu mức độ giới hạn và những đóng góp về cơ sở khoa học của để tài, trong nội dung này sẽ trình bày hai vấn đề : (i) Co sé phương pháp luận của qui hoạch DLST và phạm vi nghiên cứu của đề tài. PHƯƠNG PHÁP LUẬN.
Báo cáo khoa học Chủ nhiệm đề tài: Ths. Trần Văn Thành Những vấn dé đặt ra trong để tài được dựa vào các phương pháp luận sau đây: 1. Phương pháp luận 1: Xem xét lãnh thổ du lịch theo phương pháp luận hệ thống. Trong hoạt động khai thác và qui hoạch du lịch muốn đạt hiệu quả lâu bển nhất thiết phải xem xét đến khía cạnh không gian (lãnh thổ) của du lịch, tức tổ chức lãnh thổ du lịch (TCLTDL).
TCLUTDL được coi là một dạng của tổ chức lãnh thổ xã hội. Với sự phát triển của xã hội, nhu cầu nghỉ ngơi và giải trí xuất hiện thông qua các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch. Các chuyên gia du lịch đã phân biệt 3 hình thức của tổ chức lãnh thổ du lịch: hệ thống lãnh thổ du lịch, thể tổng hợp du lịch và vùng du lịch. Hệ thống lãnh thổ du lịch.
Theo Leiper, hệ thống du lịch bao gồm vùng xuất phát du lịch và vùng đón nhận khách du lịch trong môi trường tự nhiên, kỹ thuật, xã hội, văn hóa, kinh tế, chính tri (hinh 1. Đó là môi trường du khách ra đi và trở về sau một thời gian nghỉ ngơi, giải trí. Các phân hệ trong môi trường du lịch liên hệ mật thiết với nhau từ nguồn chỉ dẫn thông tin du lịch đến nguồn khách du lịch, giao thông vận tải, tài nguyên du lịch, dịch vụ du lịch. Theo Bưchơvarốp (1975), hệ thống lãnh thổ du lịch bao gồm 4 phân hệ: phân hệ khách du lịch, phân hệ cán bộ phục vụ, phân hệ công trình kỹ thuật và phân hệ tài nguyên du lịch có mối quan hệ tương tác với nhau (hình 1.
Hệ thống du lịch (Theo Leiper, được chỉnh lại bởi Stephen F. Witt, Luiz Moutinho) Môi trường tự nhiên, kỷ thuật, xã hội, văn háa. chính tri VUNG XUAT PHAT VUNG DON NHAN DU LICH DU KHACH | l Những dịch vụ giải trí Du khách ra đi `. 4q A A Dich vu ban vé Kênh giao thông vận tai Công nghiệp nhà hàng.
Điều hành du lịch. Công nghiệp giải trí. Đại lý Mua sắm. Quảng cáo và tiếp thị Dịch vụ du lịch.
Vị trí công nghiệp du lịch [| Báo cáo khoa học Chủ nhiệm đề tài: Ths. Trần Văn Thành Hệ thống này cũng có mối quan hệ tương tác với môi trường các điều kiện phát sinh (nhu cầu du lịch) thông qua kênh phương tiện giao thông vận tải và các hệ thống lãnh thổ du lịch khác. Hướng tiếp cận qui hoạch theo hệ thống lãnh thổ du lịch sẽ giúp ích cho việc quản lí và phát triển du lịch bên vững. Thể tổng hợp lãnh thổ du lịch (TTHLTDL).
TTHLTDL là sự kết hợp giữa các cơ sở du lịch với các xí nghiệp thuộc ha tang cơ sở được liên với nhau bằng các mối liền hệ kinh tế, sẵn xuất và cùng sit dung chung vị trí dịa lí, các nguồn TNTN và kinh tế của lãnh thổ (E. Mỗi TTHLTDL có lịch sử hình thành riêng và ở mỗi giai đoạn có cấu trúc và tổ chức lãnh thổ tương ứng. Động lực chủ yếu của nó là nhu câu du lịch của xã hội. Đề tài coi ĐBSCL là một TTHLTDL đang ở giai đoạn hình thành và phát triển nhanh trong giai đoạn 2000 — 2010.
Đây là giai đoạn mà để tài định hướng cấu trúc lãnh thổ của TTHLTDL vùng ĐBSCL. Hệ thống lãnh thổ du lịch (M.Bưchơvarốp, 1975) À _ N G A A Vv Vv / H Chú giải: L. Môi trường với các điều kiện phát sinh (nhu cầu du lịch) II. Hệ thống lãnh thổ du lịch.
Phương itện giao thông vận tải. Phân hệ khách du lịch. Phân hệ cán bộ phục vụ. Phân hệ tài nguyên du lịch.
5 Phân hệ công trình kỹ thuật. Báo cáo khoa học Chủ nhiệm đề tài: Ths. Trần Văn Thành <~—⁄ luồng kiách tu lịch. 4a——>_ Các mối liên hệ bên trong hệ thống.
«——* Các mối liên hệ với các hệ thống khác. + »_ Các mối liên hệ thông tin giữa I va II. Vùng du lịch. Khái niệm vùng du lịch được nhiễu chuyên gia du lịch để cập đến như E.
Ở Việt Nam, Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông (1991) chấp nhận quan niệm vùng du lịch của LI. Pirojnik bởi tính chất đầy đủ và hợp lí của nó. Theo quan niệm hệ thống, vàng du lịch được coi như một tập hợp hệ thống lãnh thổ ẩu lịch và không gian kinh tế xã hội xung quanh nhằm đâm bảo cho cả hệ thống hoạt động có hiệu quả, trong đó, hệ thống lãnh thổ du lịch là hạt nhân tạo nên vùng du lịch. ĐBSCL với nguồn tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật tương đối đáp ứng nhu cầu phục vụ du lịch đã trở thành hạt nhân của vùng du lịch Nam Bộ.
Phương pháp luận 2: Mối quan hệ giữa cảnh quan và DLST. Mối quan hệ giữa cảnh quan và DLST được thể hiện ở mối tương đồng quan niệm về các đối tượng con người: con người - tự nhiên, không gian môi trường và kinh tế thông qua hoạt động kinh tế xã hội. Mỗi một đơn vị cảnh quan hàm chứa những đặc thù về tiểm năng DLST, do đó là cơ sở để khai thác, tổ chức và quần lí hệ thống của đơn vị cảnh quan có thể được so sánh qua (bảng 1. Ta nhận thấy: - Do day là “dạng đặc biệt của địa hệ” mà nhiều cấu trúc đơn vị cảnh quan sinh thái vừa là nơi diễn ra quá trình du lịch, vừa là tài nguyên, đối tượng cho thưởng ngoạn.
Tính tương đối ở đây bắt nguồn từ qui luật hình thành nên lãnh thổ địa lí. - Trên nhóm chỉ tiêu tài nguyên và tổ hợp thì hầu như khái niệm tài nguyên du lịch và cấu trúc cảnh quan có mối tương đồng với nhau. - Đến nhóm chỉ tiêu nhân văn, dân tộc thì các tài nguyên du lịch vừa là sản phẩm trong sự tác động tương tác giữa con người với tổng thể cảnh quan thiên nhiên hoặc ở nhiều cấu trúc cảnh quan sinh thái. Như vậy, mối quan hệ nội dung cảnh quan sinh thái với tài nguyên của du lịch nói chung và ĐLST nói riêng đã để cập ở trên có thể tóm lại bởi sự tương đồng như sau : ©_ Con người như một hợp phần cấu trúc, như lực lượng tổ chức, quản lí, lực lượng lao động với sự liên kết nền văn mình — văn hóa cộng đồng.
© Thiên nhiên như một nhân tố, đối tượng, chất liệu và là công cụ tạo ra sẵn phẩm kinh tế và du lịch.