Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG CHỌN NGHỀ TRÊN CƠ SỞ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC VÀ NĂNG KHIẾU CỦA NGƯỜI HỌC 1.1 Tổng quan lĩnh vực nghiên cứu 1.1 Các kết quả nghiên cứu trên thế giới. Từ năm 1988 đến nay có rất nhiều tài liệu, chương trình, sách vở cũng như các học thuyết nghiên cứu có liên quan đến vấn đề hướng nghiệp trên thế giới. Nổi bật trong những tài liệu, sách vở và các học thuyết trên, chúng ta có những tài liệu, công trình nghiên cứu về hướng nghiệp quý giá như sau: Trước tiên phải kể đến là các chương trình hướng nghiệp đầu tiên ở Mỹ [3, tr.3] xuất hiện tại San Francisco vào năm 1888 ở Trường trung học Cogswell và sau đó là các trường trung học ở Detroit vào năm 1897. Các tiền đề hướng nghiệp đầu tiên bắt đầu phát triển vào cuối thế kỷ 19.
Năm 1871, Cestari làm việc tại Venice xuất bản sách về phân loại ngành nghề, thông tin nghề nghiệp, và đánh giá năng khiếu cá nhân. Lysander Richards ở Massachusetts, trong cuốn sách tựa đề Vocophy năm 1881, “The New Profession” mô tả một nghề mới để giúp ích cho trẻ trong việc chọn nghề.102] làm việc ở Florence xuất bản “Hướng dẫn thực hành cho việc chọn nghề” – “Practical Guide for Choosing a Profession” mô tả các năng khiếu và kiến thức hữu ích trong các ngành nghề khác nhau và xác định các trường tốt nhất cho ngành nghề cụ thể.102] đưa ra nội dung giáo dục và hướng nghiệp cho học sinh lớp 11 tại trường Trung Học ở Detroit, Michigan. Năm 1907, ông trở thành hiệu trưởng một trường trung học ở Grand Rapids, Michigan, tại đây ông yêu cầu giáo viên tiếng Anh cho học sinh lớp bảy viết báo cáo hàng tuần về sở thích nghề nghiệp của chúng với hy vọng giúp chúng phát triển bản thân trong tương lai. Cũng trong năm này, Jesse Davis [7] đã xây dựng cơ sở đào tạo đầu tiên về công Luan van 6 tác hướng dẫn nghề tại Michigan.
Hoạt động này dần chuyên nghiệp hơn, quyển từ điển về tên nghề đầu tiên ra đời (DOT-the Dictionary Occupational titles). DOT trở nên vô cùng quan trong cho người tìm việc, người thay đổi nghề nghiệp, nhà tư vấn và có cả một danh mục tên nghề mới nhất (thời điểm đó) để chọn. Nguồn gốc của hướng nghiệp hiện đại bắt đầu vào năm 1908. Một nhà cải cách xã hội Boston tên là Frank Parsons [10, tr.103,104] ông đưa ra ý tưởng giúp giới trẻ lựa chọn nghề, và nhận được sự đồng tình ủng hộ của nhiều người.
Parsons là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ "Hướng Nghiệp – Vocational Guide" và đã tư vấn hướng nghiệp cho 80 đàn ông và phụ nữ ở Boston. Năm 1909, Parsons đã xuất bản cuốn sách có tầm ảnh hưởng mang tựa đề "Choosing a Vocation" đã đánh dấu nguồn gốc của hướng nghiệp.104, 105] được thế giới công nhận là ông tổ của phong trào hướng nghiệp vì cuốn sách của ông đã nêu các mô hình hiện đại cho hướng nghiệp, và trở thành nền tảng của tâm lý học môi trường và con người. Gốc rễ của Lý thuyết hiện đại trong lựa chọn và phát triển nghề nghiệp do Frank Parsons khỏi xướng với ba bước: 1. Có sự hiểu biết kĩ về bản thân, khả năng, sở thích, tham vọng, những hạn chế, và kiến thức của mình.
Có kiến thức về các yêu cầu, điều kiện thành công, ưu và nhược điểm, cơ hội, và triển vọng từng công việc khác nhau. Có lý luận thực sự về mối quan hệ của hai nhóm này. Mô hình của Parsons giúp việc lựa chọn nghề nghiệp thành công, và là khuôn khổ đầu tiên khi quyết định chọn nghề, và để trở thành nhân viên tư vấn nghề nghiệp. Ông tin rằng nếu mọi người tích cực tham gia vào việc lựa chọn nghề nghiệp, thay vì chỉ cố gắng săn tìm một công việc, thì họ sẽ thấy hài lòng hơn với công việc của mình, hiệu quả lao động tăng, giảm chi phí sử dụng lao động… Đầu thế kỷ XX, các học viên tư vấn nghề nghiệp chủ yếu tập trung vào bước hai của mô hình Parsons.
Từ Thế chiến II cần có nhu cầu lớn hơn để phân loại người phù hợp và thỏa đáng hơn, Parsons chú trọng thêm cả năng khiếu và nhân cách, và vẫn tiếp tục đến ngày nay. Mô hình của Parsons [10, tr.103]: Lý thuyết đặc điểm và yếu tố “Trait-and-factor Theory” đã chiếm ưu thế lâu dài. Tiến sĩ Ogilvie Gordon Aberdeen [10, tr.103] nhà khảo cổ học, nhà lãnh đạo dân sự khởi xướng hướng nghiệp hiện đại ở Scotland và Anh. Năm 1908, Gordon xuất Luan van 7 bản Sổ tay nghề nghiệp cho Nam và Nữ - "A Handbook of Employment for Boys and Girls" đã trở thành một mô hình cho nhiều nước khác.
Cũng trong năm 1908, Scotland thông qua một Đạo Luật Giáo Dục về dịch vụ tư vấn nghề nghiệp, tổ chức việc làm kêt hợp chặt chẽ với trường học. Năm 1951, Ginzberg, Ginsburg, Axelrad, và Herma đặt ra một lý thuyết phát triển nghề nghiệp hoàn toàn mới dựa vào tâm lý học đã phá vỡ lý thuyết đặc điểm và yếu tố của Parsons. Họ thừa nhận rằng phát triển nghề nghiệp là một quá trình phát triển lâu dài; lựa chọn nghề nghiệp được đặc trưng bởi sự thỏa hiệp và một khi đã lựa chọn thì khó có thể thay đổi. Sau đó Ginzberg [10, tr106] thay đổi cả hai mệnh đề.
Lý thuyết về Ginzberg và những cộng sự đã khơi dậy một loạt các nghiên cứu ban đầu, nhưng ít có tác động trên thực hành, Ginzberg vẫn kiên định trung thành với Mô hình đặc điểm và yếu tố. Năm 1953, Donald Super [3, tr.5] công bố lý thuyết của ông về lựa chọn và phát triển nghề nghiệp. Lý thuyết của Super gồm các mệnh đề liên quan đến lý thuyết đặc điểm và yếu tố, tâm lý học phát triển, và lý thuyết xây dựng cá nhân. Các lý thuyết của Super còn ảnh hưởng đến tư duy phát triển nghề nghiệp, nghiên cứu và thực hành.
Năm 1956, Anne Roe [3, tr.5] xuất bản một cuốn sách Tâm lý nghề nghiệp “The Psychology of Occupations”, trong đó cô đặt ra một lý thuyết phát triển nghề nghiệp bắt nguồn từ thuyết nhu cầu của Maslow và lý thuyết nhân cách. Roe nhấn mạnh sự tương tác giữa con người và môi trường trong quá trình lựa chọn nghề nghiệp. Bà cho rằng những kinh nghiệm từ thuở ấu thơ sẽ liên quan chặt chẽ đến việc lựa chọn nghề nghiệp sau này, và vô thức có vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định nghề nghiệp. Năm 1959, John Holland [3, tr.5-6] đưa ra đặc điểm định hướng toàn diện giải thích về việc lựa chọn nghề, mở rộng mô hình Đặc điểm và Nhân tố cho độ tuổi 30-40 theo một mô hình năng động hơn.
Năm 1973, ông xuất bản một phiên bản đầy đủ hơn về lý thuyết của ông, sau đó sửa đổi. Lý thuyết của ông đã cung cấp động lực cho hàng trăm công trình nghiên cứu. Nó đã có một tác động thực tế to lớn và là mô hình có ảnh hưởng nhất trong việc lựa chọn nghề hiện tại. Nhiều lý thuyết mới về lựa chọn và phát triển nghề nghiệp xuất hiện từ những năm năm mươi, sáu mươi [3, tr.
Năm 1963, Bordin, Nachmann, và Segal công bố một lý thuyết phát triển sự nghiệp “A Career Development Theory”dựa trên nền tảng tư tưởng tâm lý. Năm 1969, Lofquist và Dawis công bố phiên bản đầu tiên của lý thuyết điều chỉnh công việc “Work Adjustment Theory”. Luan van 8 Năm 1979, Krumboltz [3, tr.7-8] đặt ra một lý thuyết học tập xã hội “A Social Learning Theory” trong việc ra quyết định nghề nghiệp. Hai năm sau, Gottfredson công bố lý thuyết phát triển khát vọng nghề nghiệp “Theory of Occupational Aspirations”.
Năm 1991, Peterson, Sampson, Reardon đưa ra lý thuyết về phát triển nghề nghiệp dựa trên lý thuyết nhận thức và mô hình xử lý thông tin để giải thích các quá trình liên quan. Năm 1994, Lent, Brown, và Hackett công bố mô hình về việc ra quyết định nghề nghiệp căn cứ vào lý thuyết xã hội nhận thức. Năm 1996, Brown và Crace công bố phiên bản đầu tiên mô hình ra quyết định nghề nghiệp dựa trên nền tảng “giá trị” của Brown. Và tái bản tập trung hoàn toàn vào sự lựa chọn nghề nghiệp, sự hài lòng, thành công và bao gồm cả giá trị văn hóa và giá trị công việc.
Lý Thuyết của Rene V.429-435] đưa ra lý thuyết về sự phù hợp giữa con người và môi trường "Person-Environment Correspondence Theory", nêu lên sự tương tác giữa con người (P) và môi trường (E). Lý thuyết này tập trung vào con người, nhưng không thể thiếu được tác nhân môi trường. Môi trường có thể khác nhau ở người này hay người khác, sự tương tác giữa con người và môi trường có thể tạm thời hay duy trì lâu dài: môi trường học, môi trường làm việc, môi trường nghề nghiệp. Sự tương tác giữa con người và môi trường xảy ra đồng thời và có phản ứng với nhau, cả con người và môi trường đếu có ảnh hưởng trong sự tương tác này.
Ông đưa ra các câu hỏi cơ bản cho thuyết P-E, đây cũng là câu hỏi giúp phân biệt các thuyết khác: 1. Những đặc điểm quan trong của từng nhân tố đối với sự tương tác? 2. Hệ quả của sự tương tác cho từng nhân tố là gì? 3. Làm thế nào để tương tác diễn ra? Con người và môi trường làm việc luôn có sự thay đổi.
Khi nhân viên không hài lòng với môi trường làm việc, họ có thể khiếu nại hay làm gì đó để thay đổi tình huống công việc. Việc làm này có thể mang lại hiệu quả tích cực là tăng lương cho công nhân, hay kết quả tiêu cực là một số công nhân bị sa thải. Lý thuyết này làm giảm sự khác biệt với tâm lý cá nhân truyền thống. Sự khác biệt tâm lý cá nhân tập trung vào các đặc điểm Luan van 9 theo thời gian, Dawis sử dụng phương pháp đo lường tâm lý khác biệt cá nhân, và phân tích thống kê giải thích cho sự khác biệt này.
Ông còn dùng phương pháp tính tương quan. Theo thuyết P-E của Rene V.428-440] việc điều chỉnh sự tương tác diễn ra liên tục cho đến khi cả hai yếu tố con người và môi trường được thỏa mãn. Do đó, yêu cầu và khả năng (Needs and Skills) là những đặc điểm cơ bản nhất của cả hai yếu tố này; và sự thõa mãn (cả con người và môi trường) là kết quả mong muốn của quá trình tương tác. Sự thỏa mản của con người sẽ khác nhau trong từng môi trường làm việc khác nhau.
Sự thỏa mãn của con người trong môi trường cụ thể cũng sẽ thay đổi theo thời gian. Lý Thuyết của Duane Brown: Duane Brown [3, tr.