Luận Văn Thạc Sĩ Về Hoạt Động Định Giá Thương Hiệu Tại Tổng Công Ty Thương Mại Hà Nội (HAPRO)

Luận văn thạc sĩ UEB phân tích hoạt động định giá thương hiệu tại Tổng công ty Thương mại Hà Nội Hapro, cung cấp cái nhìn sâu sắc về chiến lược thương hiệu.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Tác giả

Kim Thị Khuyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2009

133
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỊNH GIÁ THƢƠNG HIỆU

1.1. Thƣơng hiệu và định giá thƣơng hiệu

1.2. Khái niệm thương hiệu

1.3. Khái niệm thƣơng hiệu dƣới góc độ sở hữu trí tuệ

1.4. Khái niệm thƣơng hiệu dƣới góc độ quản trị - marketing

1.5. Thƣơng hiệu dƣới góc độ tài chính

1.6. Định giá thương hiệu

1.6.1. Khái niệm định giá thƣơng hiệu

1.6.2. Cơ sở định giá thƣơng hiệu

1.6.3. Phƣơng pháp định giá thƣơng hiệu

1.6.3.1. Phương pháp chi phí
1.6.3.1.1. Phƣơng pháp tiếp cận theo chi phí quá khứ
1.6.3.1.2. Phƣơng pháp tiếp cận theo chi phí thay thế (tính chi phí tái tạo thƣơng hiệu)
1.6.3.2. Phương pháp so sánh (phương pháp tiếp cận thị trường)
1.6.3.3. Phương pháp thu nhập
1.6.3.3.1. Phƣơng pháp ƣớc tính dòng tiền tăng thêm (phƣơng pháp Damodaran)
1.6.3.3.2. Phƣơng pháp định giá dựa trên tiền bản quyền thƣơng hiệu
1.6.3.3.3. Phƣơng pháp dòng tiền chiết khấu (Discounted Cash Flow)

1.6.4. Một số nhận xét về các phương pháp định giá thương hiệu

2. CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG ĐỊNH GIÁ TẠI TỔNG CÔNG TY THƢƠNG MẠI HÀ NỘI (HAPRO)

2.1. Khái quát chung về Tổng công ty Thƣơng mại Hà Nội (Hapro)

2.2. Hệ thống thƣơng hiệu của Tổng Công ty Hapro

2.3. Đặc điểm thương hiệu Hapro

2.3.1. Đặc điểm cơ bản

2.3.2. Đặc điểm mở rộng

2.4. Nhận diện hệ thống thƣơng hiệu Hapro

2.5. Xây dựng và bảo vệ thương hiệu Hapro

2.6. Hệ thống quản trị thƣơng hiệu Hapro

2.7. Quy trình xây dựng và quản trị thƣơng hiệu Hapro

2.8. Khai thác thương hiệu Hapro

2.9. Định giá thƣơng hiệu của Tổng Công ty Hapro

2.9.1. Hoạt động định giá thương hiệu của TCT

2.9.2. Xác định hiệu quả kinh doanh thƣơng hiệu

2.9.3. Định giá thƣơng hiệu Hapro

2.9.3.1. Bài toán xác định giá trị thương hiệu của Hapro
2.9.3.2. Xác định giá trị thƣơng hiệu Hapro trên cơ sở dòng thu nhập
2.9.3.3. Xác định giá trị thƣơng hiệu Hapro trên cơ sở tiền bản quyền thƣơng hiệu

2.9.4. Đánh giá chung

2.9.5. Về phƣơng pháp định giá thƣơng hiệu

2.9.6. Về khung pháp lý

2.9.7. Những nhân tố ảnh hƣởng đến quá trình và kết quả định giá thƣơng hiệu

2.9.7.1. Nhân tố bên ngoài
2.9.7.2. Nhân tố bên trong

3. CHƯƠNG 3: BÀI HỌC RÚT RA TỪ HOẠT ĐỘNG ĐỊNH GIÁ THƢƠNG HIỆU CỦA TỔNG CÔNG TY THƢƠNG MẠI HÀ NỘI (HAPRO)

3.1. Nhu cầu định giá thƣơng hiệu ở Việt Nam hiện nay

3.2. Bài học rút ra từ hoạt động định giá thƣơng hiệu của TCT Thƣơng mại Hà Nội

3.3. Bài học đối với các doanh nghiệp trong nước

3.3.1. Nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về công tác định giá thƣơng hiệu

3.3.2. Đăng ký bảo hộ thƣơng hiệu

3.3.3. Lựa chọn mô hình định giá thƣơng hiệu phù hợp với từng doanh nghiệp

3.4. Đối với chính sách định giá của Nhà nước

3.5. Đối với các tổ chức tư vấn định giá

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC I: PHƢƠNG ÁN ĐỊNH GIÁ GIÁ TRỊ TCT HAPRO

PHỤ LỤC II: BÁO CÁO TỔNG KẾT NĂM 2OO8 CỦA HAPRO

PHỤ LỤC III: BIỂU PHÍ THÍ ĐIỂM SỬ DỤNG NHÃN HIỆU HAPRO

PHỤ LỤC IV: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH NĂM 2008 CỦA HAPRO

Tóm tắt

I. Tổng quan về định giá thương hiệu tại HAPRO

Định giá thương hiệu là một trong những yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp xác định giá trị thực sự của mình trên thị trường. Tại Tổng Công Ty Thương Mại Hà Nội (HAPRO), việc định giá thương hiệu không chỉ giúp nâng cao giá trị tài sản vô hình mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững. HAPRO đã nhận thức rõ vai trò của thương hiệu trong việc thu hút khách hàng và gia tăng doanh thu. Việc định giá thương hiệu tại HAPRO được thực hiện thông qua nhiều phương pháp khác nhau, từ đó giúp doanh nghiệp có cái nhìn tổng quan về giá trị thương hiệu của mình.

1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của định giá thương hiệu

Định giá thương hiệu là quá trình xác định giá trị của thương hiệu dựa trên nhiều yếu tố như nhận thức của khách hàng, doanh thu và chi phí liên quan. Tại HAPRO, việc định giá thương hiệu không chỉ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về giá trị của mình mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các quyết định đầu tư và phát triển trong tương lai.

1.2. Lịch sử phát triển thương hiệu HAPRO

HAPRO đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển và xây dựng thương hiệu. Từ những ngày đầu thành lập, HAPRO đã chú trọng đến việc xây dựng hình ảnh thương hiệu mạnh mẽ, từ đó tạo dựng niềm tin với khách hàng. Sự phát triển của thương hiệu HAPRO gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.

II. Những thách thức trong định giá thương hiệu tại HAPRO

Mặc dù HAPRO đã có những bước tiến đáng kể trong việc định giá thương hiệu, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Các yếu tố như sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường, sự thay đổi trong nhu cầu của khách hàng và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đã tạo ra áp lực lớn cho HAPRO trong việc duy trì và nâng cao giá trị thương hiệu.

2.1. Cạnh tranh từ các thương hiệu khác

Sự xuất hiện của nhiều thương hiệu mới và mạnh mẽ trên thị trường đã tạo ra áp lực lớn cho HAPRO. Để duy trì vị thế, HAPRO cần phải liên tục cải tiến và đổi mới trong chiến lược thương hiệu của mình.

2.2. Thay đổi trong nhu cầu của khách hàng

Khách hàng ngày càng trở nên khó tính và yêu cầu cao hơn về chất lượng sản phẩm và dịch vụ. HAPRO cần phải nắm bắt kịp thời những xu hướng mới để đáp ứng nhu cầu của thị trường.

III. Phương pháp định giá thương hiệu hiệu quả tại HAPRO

HAPRO đã áp dụng nhiều phương pháp định giá thương hiệu khác nhau để xác định giá trị thương hiệu của mình. Các phương pháp này không chỉ giúp HAPRO có cái nhìn rõ ràng về giá trị thương hiệu mà còn hỗ trợ trong việc đưa ra các quyết định chiến lược.

3.1. Phương pháp chi phí

Phương pháp chi phí là một trong những phương pháp phổ biến được HAPRO áp dụng để định giá thương hiệu. Phương pháp này dựa trên việc tính toán tổng chi phí đã đầu tư vào việc xây dựng và phát triển thương hiệu.

3.2. Phương pháp thu nhập

Phương pháp thu nhập giúp HAPRO xác định giá trị thương hiệu dựa trên dòng thu nhập mà thương hiệu có thể tạo ra trong tương lai. Phương pháp này giúp HAPRO có cái nhìn tổng quan về khả năng sinh lời của thương hiệu.

IV. Ứng dụng thực tiễn của định giá thương hiệu tại HAPRO

Việc định giá thương hiệu tại HAPRO không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn được áp dụng thực tiễn trong các chiến lược kinh doanh. HAPRO đã sử dụng kết quả định giá thương hiệu để đưa ra các quyết định quan trọng trong việc phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường.

4.1. Tăng cường chiến lược marketing

Kết quả định giá thương hiệu đã giúp HAPRO xác định được các điểm mạnh và điểm yếu trong chiến lược marketing của mình. Từ đó, HAPRO có thể điều chỉnh các chiến dịch quảng bá để thu hút khách hàng hiệu quả hơn.

4.2. Định hướng phát triển sản phẩm

Dựa trên giá trị thương hiệu, HAPRO đã có những định hướng rõ ràng trong việc phát triển sản phẩm mới. Việc này không chỉ giúp nâng cao giá trị thương hiệu mà còn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

V. Kết luận và tương lai của định giá thương hiệu tại HAPRO

Định giá thương hiệu tại HAPRO là một quá trình quan trọng giúp doanh nghiệp xác định giá trị thực sự của mình. Trong tương lai, HAPRO cần tiếp tục cải tiến và áp dụng các phương pháp định giá hiện đại để duy trì và nâng cao giá trị thương hiệu. Việc này không chỉ giúp HAPRO tồn tại trong môi trường cạnh tranh khốc liệt mà còn tạo ra cơ hội phát triển bền vững.

5.1. Tầm nhìn phát triển thương hiệu

HAPRO cần có một tầm nhìn rõ ràng về phát triển thương hiệu trong tương lai. Việc này bao gồm việc xác định các mục tiêu cụ thể và các chiến lược để đạt được những mục tiêu đó.

5.2. Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển

Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển là một yếu tố quan trọng giúp HAPRO nâng cao giá trị thương hiệu. Việc này không chỉ giúp cải tiến sản phẩm mà còn tạo ra những sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu thị trường.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb hoạt động định giá thương hiệu tại tổng công ty thương mại hà nội hapro

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung cơ bản của luận văn chia thành 3 chƣơng nhƣ sau: * Chƣơng 1: Lý luận chung về định giá thƣơng hiệu. * Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động định giá thƣơng hiệu tại Tổng công ty Thƣơng mại Hà nội (Hapro). * Chƣơng 3: Bài học rút ra từ hoạt động định giá thƣơng hiệu của Tổng công ty Thƣơng mại Hà Nội. 5 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỊNH GIÁ THƢƠNG HIỆU 1.

Thƣơng hiệu và định giá thƣơng hiệu 1. Khái niệm thương hiệu Theo từ điển Oxford đƣợc xuất bản năm 1980, brand (danh từ) có nghĩa là nhãn hiệu thƣơng mại, một dấu hiệu phân biệt đƣợc làm bằng kim loại nóng, miếng kim loại nóng; một miếng gỗ đƣợc đốt cháy (để tạo thành dấu hiệu phân biệt cho hàng hóa) [10]. Thƣơng hiệu (brand) là khái niệm có nội hàm vận động theo sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Thuật ngữ “Brand” xuất phát từ tiếng Ai Len cổ - brandr, có nghĩa là vết đốt, cách thức để ngƣời nông dân đánh dấu phân biệt sản phẩm của mình với sản phẩm cùng loại của ngƣời khác[2, 10].

Tùy theo những dấu hiệu phân biệt, gia súc của các chủ trang trại nổi tiếng sẽ đƣợc mua bán dễ dàng, trong khi gia súc thuộc các trang trại “bình thƣờng” sẽ bị xem xét kỹ hoặc ít đƣợc chọn mua hơn [10]. Trong thời kỳ Trung cổ, thƣơng hiệu vẫn tiếp tục đƣợc sử dụng rộng rãi, nhƣng chính sách bế quan tỏa cảng của các triều đại phong kiến khiến các dấu hiệu này chỉ đƣợc dùng trong thƣơng mại quy mô địa phƣơng, ngoại trừ một số dấu hiệu nổi tiếng đƣợc giới quý tộc, vua chúa sử dụng. Kể từ thế kỷ XVII, XVIII, các công xƣởng sản xuất đồ sứ, đồ gỗ và thảm thêu bắt đầu phát triển ở Pháp và Bỉ, “thƣơng hiệu” bắt đầu đƣợc sử dụng rộng rãi nhằm chứng tỏ xuất xứ và chất lƣợng sản phẩm. Cùng lúc này, những sắc luật, đạo luật liên quan “nhãn hiệu thƣơng mại” đã bắt đầu có giá trị thực thi, bảo vệ quyền lợi cho chủ nhân của thƣơng hiệu.

Chẳng hạn, theo nhiều nghiên cứu lịch sử, Red Triangle là nhãn hiệu thƣơng mại đầu tiên đăng ký tại Anh năm 1876. Sự ra 6 đời của các hãng quảng cáo nửa cuối thế kỷ XIX nhƣ J Walter Thompson và NW Ayer cũng đƣợc xem là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển của thƣơng hiệu. Sự sử dụng thƣơng hiệu trên quy mô lớn đƣợc xem là một hiện tƣợng đáng chú ý giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Nhiều thƣơng hiệu nổi tiếng hiện nay đã ra đời trong giai đoạn này nhƣ Coca-Cola, American Express, Kodak, Prudential Insurance… Theo đánh giá của giới nghiên cứu, kể từ khi Chiến tranh Thế giới thứ II kết thúc, đặc biệt là trong giai đoạn toàn cầu hóa và internet, nhân loại đã chứng kiến sự “bùng nổ” thực sự của việc sử dụng thƣơng hiệu ở cấp độ toàn cầu.

Tình hình cũng tƣơng tự nhƣ vậy ở phƣơng Đông vào thời cổ đại và trung đại. Trong xã hội Trung Quốc, với sự phân biệt thành 4 giai tầng xã hội chính: sỹ - nông – công – thƣơng, trong hoạt động thƣơng mại, mỗi thƣơng nhân sử dụng một “thƣơng hiệu” riêng nhằm phân biệt mình với các nhà buôn khác. Còn tại Việt Nam, theo các nhà quản lý thuộc Cục Sở hữu Trí tuệ Việt Nam, thuật ngữ “Thƣơng hiệu” đã từng xuất hiện trong các văn bản pháp luật thời Pháp thuộc: “Được coi là nhãn hiệu hay thương hiệu các danh từ có thể phân biệt rõ rệt, các danh hiệu, biểu ngữ, dấu in, con niêm, tem nhãn, hình nổi, chữ, số, giấy phong bì cùng các tiêu biểu khác dùng để dễ phân biệt sản phẩm hay thương phẩm” (Điều 1, Dụ số 5 ngày 01/4/1952 của Chính quyền Bảo Đại) [2] Theo nghiên cứu do các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu Thƣơng mại, Bộ Thƣơng mại (nay là Bộ Công thƣơng), trong thời kỳ trƣớc năm 1975, Chính quyền Ngô Đình Diệm đã ban hành Luật số 13/57 (ngày 1/8/1957) “quy định về nhãn hiệu chế tạo và thƣơng hiệu”, trong đó coi thƣơng hiệu là một loại nhãn hiệu (nhãn hiệu thƣơng phẩm) [2]. Kể từ khi thống nhất đất nƣớc, nhất là khi chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, thuật ngữ thƣơng hiệu, cùng với nhiều khái niệm khác liên quan kinh tế thị trƣờng hiện đại đã và đang 7 đƣợc sử dụng rộng rãi tại Việt Nam.

Tuy nhiên, khác với giai đoạn trƣớc, trong các văn bản pháp luật hiện nay của Việt Nam, không có thuật ngữ thƣơng hiệu mà chỉ có các thuật ngữ liên quan khác là nhãn hiệu hàng hóa, tên thƣơng mại, chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ, kiểu dáng công nghiệp…[1] Theo tổng kết của Cục xúc tiến thƣơng mại thuộc Bộ Công thƣơng Việt Nam[2], thƣơng hiệu không phải là một đối tƣợng mới trong sở hữu trí tuệ mà là một thuật ngữ phổ biến trong marketing, thƣờng đƣợc ngƣời ta sử dụng khi đề cập tới: a) nhãn hiệu hàng hóa (thương hiệu sản phẩm); b) tên thương mại của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh (thương hiệu doanh nghiệp); hay c) các chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hóa. Những nghiên cứu trƣớc đây đã chỉ ra rằng xuất xứ ban đầu của thuật ngữ thƣơng hiệu chính là dấu hiệu phân biệt giữa các hàng hóa, sản phẩm, tổ chức khác nhau, nội hàm của thƣơng hiệu và nhãn hiệu ban đầu là đồng nhất. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trƣờng, kinh tế tri thức và sở hữu trí tuệ, bản thân thuật ngữ nhãn hiệu là không đủ để giải thích nhiều hiện tƣợng kinh tế học, marketing và tài chính hiện đại. Nhƣ Vargo và Lusch đã khẳng định, trong nền kinh tế thị trƣờng hiện đại, một logic mới đang nổi lên và ngự trị trong lĩnh vực marketing, chuyển từ truyền thống hướng về các nguồn tài nguyên hữu hình sang các nguồn lực vô hình, từ những giá trị hạn định sang cùng nhau tạo ra giá trị và từ giao dịch sang quan hệ[9].

Cùng với sự ngự trị của xu hƣớng mới, thuật ngữ thƣơng hiệu đã vƣợt ra khỏi phạm vi hữu hình – dấu hiệu phân biệt hay nhãn hiệu và mang những ý nghĩa và giá trị vô hình; nhãn hiệu là phần xác, thƣơng hiệu là linh hồn thể hiện dƣới phần xác đó. Tuy nhiên cũng từ đây, đã xuất hiện vô số cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau cho khái niệm “thƣơng hiệu”, làm nảy sinh cuộc tranh cãi chƣa có hồi kết trong giới nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về thuật ngữ này, cũng nhƣ ranh giới phân biệt giữa thƣơng hiệu với nhãn hiệu và những khái niệm khác liên quan. Để phục vụ cho nghiên cứu của mình, tác giả thấy cần hệ thống hóa và phân tích khái niệm thƣơng hiệu dƣới 3 góc độ: sở hữu trí tuệ, quản trị marketing và tài chính. Khái niệm thương hiệu dưới góc độ sở hữu trí tuệ a.

Nhãn hiệu và tên thương mại Từ góc độ sở hữu trí tuệ, có 2 khái niệm liên quan trực tiếp đến thuật ngữ thƣơng hiệu – nhãn hiệu và tên thƣơng mại. Theo điều 72, Luật Sở hữu Trí tuệ Việt Nam (số 50/2005/QH11), nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy đƣợc dƣới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, đƣợc thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc. Nhãn hiệu đƣợc bảo hộ nếu có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác [8]. Theo điều 76 của luật này, tên thƣơng mại là tên gọi dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và cùng khu vực kinh doanh.

Tên thƣơng mại và nhãn hiệu là những yếu tố đƣợc pháp luật bảo hộ. Quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu, chủ sở hữu tên thƣơng mại đƣợc pháp luật thừa nhận và bảo hộ, bao gồm: quyền sử dụng nhãn hiệu, tên thƣơng mại trong kinh doanh; quyền cho phép hoặc cấm ngƣời khác sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tƣơng tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của mình; quyền cấm ngƣời khác sử dụng tên thƣơng mại gây nhầm lẫn về hoạt động kinh doanh của mình. Chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền khai thác, chuyển nhƣợng quyền sở hữu, chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu cho cá nhân, tổ chức khác. Sự thừa nhận và bảo hộ của pháp luật đã khiến cho, không phải nhãn hiệu hay tên thƣơng mại, mà là quyền sở hữu, sử dụng chúng trở thành một tài sản đặc biệt của doanh nghiệp chủ sở hữu, thành vũ khí để doanh nghiệp thu hút khách hàng.

Sự bảo hộ của pháp luật không chỉ nhằm bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp mà còn cho lợi ích của ngƣời tiêu dùng vì họ dựa trên nhãn hiệu để phân biệt sản phẩm, hàng hóa của các doanh nghiệp khác nhau. Giá trị của quyền sở hữu nhãn hiệu phụ thuộc lƣợng khách hàng bị chi phối bởi nhãn hiệu đó. Do đó, ở những hệ thống pháp luật mà sự bảo hộ với 9 sở hữu công nghiệp không chặt chẽ và nghiêm khắc, giá trị của quyền đối với nhãn hiệu của chủ sở hữu sẽ bị tổn hại ít nhiều. Phân biệt nhãn hiệu và thương hiệu Thƣơng hiệu và nhãn hiệu có những mối liên hệ hữu cơ với nhau, trong đó thƣơng hiệu là một thuật ngữ có nội hàm rộng hơn.

Nhìn bề ngoài, có vẻ nhƣ thƣơng hiệu và nhãn hiệu hoàn toàn tƣơng đồng, bởi chúng cùng đƣợc sinh ra thông qua một cái tên, một biểu tƣợng, nhƣng về bản chất thì chúng khác nhau. Thƣơng hiệu (Brand) đƣợc tạo ra bởi thị trƣờng, còn nhãn hiệu (Trademark) đƣợc tạo ra bởi nhà sản xuất. Có thể nhận thấy sự khác biệt giữa thƣơng hiệu (Brand) và nhãn hiệu (Trademark) trên một số dấu hiệu sau: Nhãn hiệu mô tả đƣợc còn thƣơng hiệu là trong đầu khách hàng, vì nhãn hiệu đơn thuần là những dấu hiệu trong khi thƣơng hiệu không chỉ là dấu hiệu mà còn là hình ảnh trong tâm trí ngƣời tiêu dùng. Nhãn hiệu có giá trị cụ thể và hữu hình, có chi phí đăng ký định rõ vì nhãn hiệu đƣợc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá.

Chính vì vậy, nhãn hiệu đƣợc hiện diện trên văn bản pháp luật nếu doanh nghiệp đăng ký và đƣợc cơ quan chức năng công nhận. Nhãn hiệu đƣợc xây dựng trên hệ thống luật quốc gia, là phần thân thể của doanh nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ