Chương 1: Cơ sở lý luận về TTMN và các phương pháp ĐG tại TTMN. Chương này đưa ra cái nhìn tổng quan về những cơ sở lý thuyết liên quan đến quá trình nghiên cứu. Chương 2: Thực trạng công tác ĐG tại TTCK VN. Chương này mô tả những kết quả thu thập từ việc điều tra, nghiên cứu.
Chương 3: Giải pháp khắc phục những vấn đề tác động đến kết quả ĐG tại thị trường VN hiện nay. 1 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƢỜNG MỚI NỔI VÀ CÁC PHƢƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁTẠI THỊ TRƢỜNG MỚI NỔI 1. THỊ TRƢỜNG MỚI NỔI 1. Định nghĩa thị trƣờng mới nổi Được đề cập lần đầu tiên vào những năm 1980 bởi nhà kinh tế học Antoine W.
Van Agtmael thuộc NH Thế giới, thuật ngữ “TTMN” sử dụng tương đương với “NKT mới nổi”, được định nghĩa là một NKT có thu nhập bình quân đầu người từ mức thấp đến trung bình. Các quốc gia này chiếm xấp xỉ 80% dân số thế giới và đại diện khoảng 20% NKT thế giới. Tuy nhiên, thực chất thuật ngữ này không chỉ đề cập đến vị trí địa lý hay tiềm lực kinh tế của một quốc gia nào; nó mang ý nghĩa rộng hơn, thể hiện một đất nước đang trong quá trình chuyển đổi từ “đang phát triển” thành “phát triển”. Để nhấn mạnh bản chất dễ thay đổi của phạm trù này, nhà khoa học chính trị Ian Bremmer định nghĩa TTMN là “một quốc gia mà tại đó những vấn đề chính trị tối thiểu cũng nhiều như những vấn đề kinh tế tác động đến thị trường”.
Trong báo cáo NKT mới nổi năm 2008 (the 2008 Emerging Economy Report), Trung tâm Kiến thức Xã hội (the Center for Knowlegde Societies) định nghĩa các TTMN là “những khu vực trên thế giới đang tiếp cận thông tin một cách nhanh chóng dưới những điều kiện của quá trình công nghiệp hóa một phần”. Theo Pereiro trong “Valuation of Companies in Emerging Markets: A Practical Approach”, TTMN là một thuật ngữ có nhiều sắc thái ý nghĩa khác nhau. Thuật ngữ này đề cập đến biên giới kinh tế trên bản đồ thương trường, tại đó những điều kiện khác biệt một cách rõ rệt so với những điều kiện quen thuộc và đầy đủ của các thị trường đã phát triển. [16] Định giá doanh nghiệp trên thị trường mới nổi và ứng dụng tại Việt Nam 2 1.
Đặc điểm thị trƣờng mới nổi Bộ chỉ số TTMN (Emerging Market Indices) của tổ chức Standard & Poor’s (S&P) được nhìn nhận một cách rộng rãi như sự đo lường đáng tin cậy và toàn diện về các TTMN trên thế giới. Các chỉ số này được S&P xây dựng dựa trên cơ sở dữ liệu thu thập từ Tổ chức Tài chính Quốc tế (International Finance Corporation – IFC) vào năm 2000. Đây là bộ dữ liệu đã được cập nhật, duy trì liên tục từ năm 1975. Kể từ sự khởi đầu đó, bộ chỉ số đã được phát triển và đến nay đã bao quát hơn 2.000 DN trên 58 thị trường khác nhau.
Bộ chỉ số TTMN của S&P (S&P EMI) được chia thành hai hệ thống chính, bao gồm nhóm chỉ số S&P/IFCG (International Finance Corporation Global) và S&P/IFCI (International Finance Corporation Investable). Nhóm chỉ số S&P/IFC xem xét một TTMN khi thị trường đó thỏa mãn ít nhất một trong hai tiêu chuẩn sau đây: Là một NKT có thu nhập thấp, trung bình thấp hoặc trung bình khá. Việc phân loại này được xác định theo phân loại của NH Thế giới. Tổng mức vốn hóa thị trường có thể đầu tư thấp hơn tương đối so với con số GDP gần nhất của NKT.
Theo Pereiro trong “Valuation of Companies in Emerging Markets: A Practical Approach”, “TTMN” được sử dụng để diễn tả NKT các quốc gia sau có đặc điểm sau: Mức độ tạo ra của cải - được đo lường bằng GNP bình quân đầu người - ở mức thấp hơn so với các NKT đã phát triển theo định nghĩa của NH Thế giới. Đang trải qua tiến trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, mở cửa biên giới cho các dòng chảy thương mại quốc tế, đầu tư và các thông lệ quản lý theo đẳng cấp quốc tế. THỊ TRƢỜNG CẬN BIÊN 1.1 Mối quan hệ giữa các thị trƣờng mới nổi và thị trƣờng cận biên Theo Slim Feriani, “TTCB đại diện cho “những gốc rễ” của các TTMN và có những đặc trưng tương tự, hấp dẫn các NĐT vào những ngày đầu của các TTMN”. Định giá doanh nghiệp trên thị trường mới nổi và ứng dụng tại Việt Nam 3 Theo Sarasin & Partners, “TTCB là những TTMN kém phát triển hơn; về bản chất, đây là “trạng thái mới xuất hiện của các TTMN”.
Claymore cho rằng “TTCB là thế hệ khởi đầu của các TTMN. Nếu hình tượng hóa trong một môi trường liên tục, TTCB được ví như đứa bé sơ sinh trong mối quan hệ với các thị trường khác. TTMN được xem là các thanh thiếu niên và thị trường đã phát triển là những người trưởng thành”. Dough Roller nhận định TTCB diễn tả các quốc gia kém thanh khoản, kém phát triển và quy mô nhỏ nhất; chính các NKT này sẽ cấu thành nên các TTMN.
[24] Nhìn chung, thuật ngữ TTCB được sử dụng phổ biến để diễn tả các thị trường vốn của các quốc gia có quy mô nhỏ và khó tiếp cận hơn các TTMN, nhưng vẫn là những quốc gia “có thể đầu tư được” trong khu vực đang phát triển của thế giới. Thị trường vốn cận biên hay thị trường vốn “trước mới nổi” trở thành mục tiêu của các NĐT tìm kiếm tiềm năng sinh lời cao trong dài hạn, vừa hướng đến mục tiêu đa dạng hóa danh mục vừa chấp nhận gia tăng RR. Qua thời gian, TTCB sẽ trở nên thanh khoản hơn và biểu hiện những đặc điểm RR cũng như sinh lời tương tự như các TTMN truyền thống.2 Phân loại thị trƣờng cận biên Thuật ngữ “TTCB” bắt đầu được sử dụng khi S&P khởi đầu việc ghi nhận một chỉ số TTCB vào năm 1996. Tuy nhiên, đến tháng 10/2007, thuật ngữ này mới nhận được sự chú ý rộng rãi hơn khi S&P đưa ra các chỉ số về khả năng đầu tư đầu tiên của các thị trường này, bao gồm hai chỉ số: Select Frontier Index (30 công ty lớn nhất từ 11 quốc gia) và Extended Frontier Index (150 công ty lớn nhất từ 27 quốc gia).
Đến tháng 8/2008, S&P đã đưa ra chỉ số S&P Frontier Markets. Là một bộ phận của hệ thống chỉ số S&P/IFC, chỉ sô này bao quát 36 quốc gia, bao gồm cả VN. Vào đầu năm 2008, tổ chức MSCI Barra cũng đưa ra chỉ số TTCB - MSCI Frontier Markets (FM) Indices, bao gồm TTCK của 19 quốc gia. Bên cạnh mức thu nhập, nhóm S&P/IFC còn sử dụng các tiêu chuẩn khác để phân loại các quốc gia vào các nhóm thị trường đã phát triển, TTMN, TTCB hoặc Định giá doanh nghiệp trên thị trường mới nổi và ứng dụng tại Việt Nam 4 nhóm thị trường chưa được xếp loại.
Những tiêu chuẩn này tính đến các đặc điểm kinh tế vĩ mô, quy mô thị trường, tính thanh khoản và mức độ tham nhũng. Thành viên của các TTCB sẽ được xem xét, sắp xếp một cách tương đối vào ba nhóm sau: Các quốc gia nhỏ có trình độ phát triển tương đối cao (như Estonia) nhưng khá nhỏ để có thể cân nhắc vào các TTMN. Các quốc gia hạn chế đầu tư nhưng đã bắt đầu nới lỏng sự giới hạn từ giữa những năm 2000 (như các nước thuộc Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh – Gulf Cooperation Council). Các quốc gia có trình độ phát triển thấp hơn các TTMN hiện tại (như Kenya hay VN).3 Đặc điểm của thị trƣờng cận biên Theo các nghiên cứu của Franklin Templeton Institutional, TTCB có các đặc trưng tổng thể sau đây: Các NKT TTCB thuộc các giai đoạn khác nhau của quá trình phát triên, nhưng phần lớn đều có xuất phát điểm thấp, và vì vậy, triển vọng tăng trưởng dài hạn của các NKT này khá vững chắc.
Thị trường vốn của các quốc gia này đang trong giai đoạn phát triển sơ khai. Theo phương diện lịch sử, các thị trường này thường có xu hướng biểu lộ mức độ tương quan thấp với các thị trường đã phát triển và các TTMN, và do đó, đem lại sự đa dạng hóa nhiều hơn cho các NĐT. Sự quan tâm của dòng vốn đầu tư nước ngoài đối với các TTCB thường ở mức thấp do một số điểm hạn chế của các thị trường này. Tuy nhiên, mức độ kêu gọi sự đầu tư góp vốn cao và do đó, các NĐT nước ngoài có khả năng lựa chọn nhiều cơ hội tốt.
TTCB thường mang tính bất ổn cao về kinh kế lẫn chính trị, thanh khoản thấp, quy mô vốn hóa thị trường nhỏ, khả năng quản trị DN kém. Tuy nhiên, đối với các đối tượng kiên nhẫn - các NĐT dài hạn, phần thưởng có thể lớn hơn nhiều so với những RR trên. [24] Định giá doanh nghiệp trên thị trường mới nổi và ứng dụng tại Việt Nam 5 Từ các đặc trưng khái quát trên, có thể chi tiết những đặc điểm của TTCB như sau: 1.1 Tốc độ tăng trƣởng GDP thực cao Với quy mô khiêm tốn của NKT, các TTCB thường có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng tại các thị trường đã phát triển.1 cho thấy phần lớn các TTCB có tốc độ tăng trưởng GDP thực trong năm 2011 khá cao vào khoảng 5% - 8%, một số trường hợp đặc biệt như Qatar, Ghane dẫn đầu với mức tăng trưởng tương ứng lên đến 19% và 14%. Ngược lại, tốc độ tăng trưởng GDP thực của một nước đã phát triển như Mỹ, Anh, Đức và Pháp chỉ dao động ở mức 1% - 3%, Nhật còn ghi nhận mức tăng trưởng âm 0,7%.1 – Tốc độ tăng trƣởng GDP thực của các thị trƣờng đã phát triển và TTCB Nguồn: http://databank.2 Gia tăng tiêu dùng nội địa Tăng trưởng GDP có thể làm cho thu nhập của người dân được cải thiện, từ đó gia tăng các khoản tiết kiệm và chi tiêu.
Điều này, nói cách khác, có thể cho phép các quốc gia TTCB thoát khỏi vòng luẩn quẩn: từ việc thu nhập thấp tác động đến tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư và sức sản xuất; các yếu tố này lại quay lại ảnh hưởng đến thu nhập người dân. Định giá doanh nghiệp trên thị trường mới nổi và ứng dụng tại Việt Nam 6 1.3 Khuynh hƣớng mở rộng thị trƣờng chứng khoán Khuynh hướng mở rộng TTCK tại các TTCB chủ yếu đến từ hai nguyên nhân: (i) các chính phủ tiến hành cổ phần hóa và thoái bớt phần vốn nhà nước (NN) sở hữu tại một số DN và (ii) các chủ DN ngày càng sử dụng thị trường vốn như một kênh tài trợ cho việc mở rộng kinh doanh.