CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BỆNH LÝ ĐĨA ĐỆM VÙNG CỘT SỐNG CỔ 1.1 Những vấn đề liên quan đến cột sống: Xương sống chính là trụ cột của cơ thể chúng ta. Xương sống nâng đỡ sức nặng các phần ở bên trên của cơ thể là đầu, mình, hai tay. Ngay trên cột sống các đốt xương hợp nhất lại, phối hợp với dây chằng và các đĩa đệm để bảo vệ tủy sống - cơ quan truyền thụ cảm giác trực tiếp tới não bộ. Xương sống trẻ sơ sinh có có 33 đốt: 7 đốt cổ, 12 đốt ngực, 5 đốt thắt lưng, 5 đốt hông và 4 đốt cụt.
Tới khi trưởng thành, các đốt hông và cụt dính lại với nhau, chỉ còn lại hai xương cùng và xương cụt. Vì thế người trưởng thành chỉ có 26 đốt xương sống. Cột sống chạy từ đáy hộp sọ xuống tới cuối lưng, bao bọc và bảo vệ dây cột sống (spinal cord). Dây cột sống gồm có các tế bào thần kinh, các bó sợi thần kinh kết nối tất cả các bộ phận của cơ thể với não bộ.
Từ cột sống, phát xuất 32 đôi dây thần kinh tủy sống. Xương sống khớp với hộp xương sọ, xương sườn, đai hông và là nơi bám của các cơ lưng. Cột sống không đứng ngay thẳng mà có nhiều đoạn hơi cong để chịu sức nặng cơ thể hữu hiệu hơn trong các thế đứng khác nhau. Các đốt xương sống được dây chằng và hơn 400 cơ bắp nho nhỏ neo giằng hỗ trợ.
NGUYỄN HỮU PHÚC Page 8 LUẬN VĂN THẠC SĨ HDKH: PGS.TS TRẦN MINH THÁI Dây chằng (ligament) là một băng mô liên kết xơ cứng, mầu trắng, nối hai xương với nhau ở vùng khớp. Các dây này không đàn hồi nhưng có thể uốn cong, giữ cho khớp mạnh hơn và giới hạn sự chuyển động của khớp về một phía nào đó. Nằm giữa các đốt xương là một cấu trúc dẹp (đĩa liên sống) cấu tạo bằng chất collagen rất bền chắc dùng làm chất đệm cho đốt xương, chống đỡ với sức mạnh va chạm. Khi chúng ta mới sanh, nước chiếm 80% thành phần cấu tạo của đĩa và đĩa mềm sốp.
Tới tuổi gia tăng, nước trong đĩa khô dần. Vì đĩa không có mạch máu nuôi dưỡng, cho nên khi bị tổn thương thì không tự lành được. Khi đĩa bị chấn thương, dây thần kinh bị đè kẹp và gây ra đau đớn vô cùng cho chân. Đốt ở phía cuối cột sống là nơi gây ra nhiều đau hơn cả.
Khi các thành phần cấu tạo xương sống bị tổn thương, siêu vẹo, co kéo thì đau lưng xảy ra. Mấy bệnh thông thường của cột sống: Mỗi đốt sống được ghép với nhau bởi một đĩa đệm nằm giữa. Đĩa đệm này có khả năng đàn hồi, biến dạng mỗi khi chúng ta vận động xương cột sống.Bên trong đĩa đệm là tổ hợp các dây chằng và tủy sống. Tủy sống chạy xuyên suốt từ não bộ xuống đốt sống cuối cùng.
Tủy sống kết hợp với hệ thần kinh điều khiển mọi sự hoạt động của con người. nếu tủy sống bị chấn thương thì hệ thần kinh cũng bị tổn thương nghiêm trọng và gây ra một số bệnh bại liệt, mất cảm giác. NGUYỄN HỮU PHÚC Page 9 LUẬN VĂN THẠC SĨ HDKH: PGS.TS TRẦN MINH THÁI Hình 1.1 : Cột sống con người [51] A. Đoạn đốt sống cổ B.
Đoạn đốt sống ngực C. Đoạn đốt sống thắt lưng D.Đoạn đốt sống cùng E. Đoạn đốt sống cụt 1.2 Những vấn đề liên quan đến cột sống cổ: 1.1 Thân đốt sống: NGUYỄN HỮU PHÚC Page 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ HDKH: PGS.TS TRẦN MINH THÁI Cột sống cổ gồm 7 đốt nối từ cổ chẩm đến đốt sống ngực T1. Mỗi đốt có 3 phần chính: thân, cung sau và các mỏm.
Giữa cung và thân có lổ đốt sống, tạo nên ống tủy khi các đốt sống chồng lên nhau, trong đó chứa đựng tủy sống.2: vị trí các đốt sống cổ và đĩa đệm thoát vị Thân đốt sống có hình trụ, trên và dưới được viền xung quanh bởi gờ xương, các mặt này giáp với đĩa đệm, vì vậy đĩa đệm chịu lực trực tiếp từ thân đốt sống. Mặt trên có hai gờ xương nổi lên ở hai bên và khớp với phần dưới của thân phía trên, ở giữa có tổ chức tạo keo, có cấu trúc như một khớp, có vai trò giữ đĩa đệm không lệch sang hai bên, là đặc điểm riêng của vùng cổ. Khoảng gian đĩa ( Intervetebral disc ) là một cấu trúc mềm dẻo giữa hai phần thân đốt sống. độ mềm dẻo của cột sống tùy thuộc và khả năng phục hồi hình dạng của đĩa đệm qua các hình dạnh của cột sống, khoảng gian đĩa bao gồm nhân đệm NGUYỄN HỮU PHÚC Page 11 LUẬN VĂN THẠC SĨ HDKH: PGS.TS TRẦN MINH THÁI (Nucleus pulosus ) chứa gelatin ở phần trung tâm và các vành thớ (Anulus fibrosus) bao quanh nhân đệm.2 Dây chằng và các cơ: Cột sống được nâng đỡ ở phía trước và phía sau theo chiều dài của nó bởi dây chằng dọc trước và dây chằng dọc sau.
Dây chằng dọc sau được mô tả gồm 2 lớp sâu và nông, mặc dù những nghiên cứu gần đây cho thấy nó có 3 lớp. cả 2 dây chằng dọc trước và dọc sau đều đóng góp vào độ vững, mức độ di động và mềm dẻo của cột sống Hình 1.3 : Hệ thống dây chằng dọc sau và cấu trúc liên quan [34] Dây chằng dọc sau (The posterior Longitudiual Ligament): dây chằng dọc sau nằm trong ống sống và trải dài dọc mặt sau của các thân đốt sống, từ thân của đốt trục, nơi nó liên tiếp với màng mái, tới xương cùng. Các sợi mịn và bóng của nó gắn chặt với các đĩa gian đốt sống, các tấm sụn trong đầu xương và rìa lồi của các thân đốt sống liền kề, nhưng ở giữa những chỗ bám này và được ngăn cách với thân đốt sống bởi các tĩnh mạch sống và các nhánh tĩnh mạch mà dẫn máu từ các tĩnh mạch sống. NGUYỄN HỮU PHÚC Page 12 LUẬN VĂN THẠC SĨ HDKH: PGS.TS TRẦN MINH THÁI Dây chằng dọc trước (The Anterior Longitudinal Ligament): được tạo nên bởi các sợi dọc dày đặc.
Những sợi này dính chặt và các đĩa gian đốt sống và các rìa lồi lên của thân đốt sống nhưng không dính và phần giữa của các thân đốt sống. Lúc đi qua phần giữa các thân đốt sống thì dây chằng dày lên để lấp vào vùng trên ở mặt trước các thân đốt, làm cho mặt trước cột sống phẳng hơn. Dây chằng được tạo nên bởi vài lớp sợi khác nhau về chiều dài nhưng đan cài chặt chẽ với nhau, Những sợi nông nhất là những sợi dài nhất và trải dài giữa bốn hoặc năm đốt sống. Những sợi sâu hơn nằm ngay bên dưới, trải dài giữa hai hoặc ba đốt sống này.
Ở mặt bên của các thân đốt sống, dây chằng được tạo nên bởi một ít sợi ngắn đi từ đốt sống này đến đốt sống kế tiếp, được ngăn cách khỏi chỗ lỡm giữa các thân đốt sống bởi những lỗ cho mạch máu chạy qua. NGUYỄN HỮU PHÚC Page 13 LUẬN VĂN THẠC SĨ HDKH: PGS.TS TRẦN MINH THÁI 1. Nhánh chũm của động mạch chẩm trái 23. Động mạch cổ lên (cắt) 2.
Động mạch tiểu não trước dưới 24. Động mạch cảnh chung 3. Nhánh màng bão của động mạch hầu lên trái 25. Động mạch giáp trên 4.
Động mạch tiểu não sau dưới 26. Động mạch thanh quản trên 5. Các đọng mạch đốt sống phải và trái 27. Động mạch hầu lên 6.
Nhánh màng não sau của động mạch đốt sống 28. Động mạch lưỡi 7. Nhánh màng não trước của động mạch đốt sống 29. Động mạch mặt NGUYỄN HỮU PHÚC Page 14 LUẬN VĂN THẠC SĨ HDKH: PGS.TS TRẦN MINH THÁI 8.
Động mạch tai sau 30. Động mạch cảnh ngoài 9. Động mạch chẩm 31. Động mạch thái dương nông 10.
Động mạch cảnh trong 32. Động mạch hàm trên 11. Động mạch mảng não giữa 12. Động mạch đốt sống 35.
Động mạch thông sau 14. Động mạch mắt 15. Động mạch cổ sâu 37. Động mạch thông trước 16.
Động mạch gian sườn trên cùng 38. Động mạch não trước 17. Thân sườn - cổ 39. Động mạch não giữa 18.
Động mach dưới đòn 40. Động mạch màng não giữa trái 19. Động mạch ngực trong 41. Động mạch não sau 20.
Thân cánh tay đầu 42. Động mạch tiểu não trên 21. Thân giáp - cổ 43. Động mạch nền 22.
Động mạch giáp dưới 44. Động mạch thính giác trong trái (mê nhĩ) Hình 1.4: Atlas động mạch của đầu mặt cổ [58] Các cơ cùng với dây chằng có chức năng nâng đỡ và bảo vệ cột sống bằng cách bao phủ toàn bộ hệ thống cột sống và đồng thời cũng cố định cột sống mỗi khi bị tác động (mòn mấu khớp nối, nứt xương cột sống, lồi đĩa đệm). Các cơ sẽ phản ứng bằng cách co thắt lại. Các cơ sẽ phản ứng bằng cách co thắt lại.
Mặc dù các bác sĩ đều thống nhất là các cơ ít vận động và yếu là nguyên nhân xếp hàng đầu gây ra chứng đau lưng và họ cũng đồng ý với ý kiến cho rằng dưới điều kiện căng thẳng về tinh thần hay thể xác thì các cơ, cho dù là cơ đang khỏe mạnh, cũng sẽ dễ dàng bị co thắt và gây ra đau đớn. Mỏm móc và khớp Luschka: Mặt trên của thân đốt sống cổ có 2 phần xương nhô lên trên ở mép sau bên của thân sống gọi là mỏm móc. Phần xương nhô ra ở mặt dưới phía trước bên của thân sống được kết nối với mỏm móc tạo thành khớp Luschka. Khớp Luschka cùng với mặt khớp tạo nên bờ trước và bờ sau của lỗ liên hợp, nơi đi ra của các rễ thần kinh.
Khớp Luschka không phải khớp thật sự, vì nó không có bao hoạt dịch, nhưng nó đóng vai trò là rào chắn bằng xương để giữ đĩa đệm không chạy ra ngoài. NGUYỄN HỮU PHÚC Page 15 LUẬN VĂN THẠC SĨ HDKH: PGS.TS TRẦN MINH THÁI 1.3 Động mạch đốt sống: Động mạch đốt sống là nhành bên của động mạch dưới đĩa, chui vào lổ của các mỏm ngang đốt sống, hầu hết các động mạch đều chui vào từ lỗ mỏm ngang đốt sống cổ 6 (C6). Động mạch đốt sống chạy dọc giữa các đốt sống này sau đó đi vòng ra sau quanh mỏm khớp trên đốt đội (C1) chui vào trong hộp sọ. Mỗi động mạch đốt sống tách ra 2 động mạch nhỏ là: Động mạch tủy sống trước và động mạch tủy sống sau.5: hệ thống mạch máu tủy sống [27] Mạch máu tủy sống: Tủy sống được cung cấp bởi 3 động mạch: - Động mạch tủy trước: Động mạch gai trước tách ra từ động mạch đốt sống gần thân nền hợp thành thân chung đi dọc xuống theo đường giữa, trước khe trước của tủy.
NGUYỄN HỮU PHÚC Page 16 LUẬN VĂN THẠC SĨ HDKH: PGS.