CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN, MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI 1.1 TÌNH HÌNH CHUNG Bệnh u vú lành tính (BBDs) là một nhóm các bệnh vú không phải là ung thư. Đây là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra các vấn đề về vú ở phụ nữ và thường xuyên hơn các bệnh ác tính [1]. Trên thực tế, căn bệnh này phổ biến nhiều hơn ít nhất 10 lần so với ung thư vú ở các nước phương Tây. Có tới 30% phụ nữ bị BBDs sẽ phải điều trị vào một thời điểm nào đó trong đời.
Tổn thương vú lành tính có thể gây ra đau, sưng khối u, nhiễm trùng, chảy dịch ở núm vú và thay đổi bề mặt da vú. Với tỷ lệ mắc bệnh ngày càng gia tăng, những nguy cơ tiềm ẩn cho sức khỏe của phụ nữ cũng ngày càng được quan tâm. Mặc dù các bệnh u vú lành tính không gây tử vong tức thời nhưng về lâu dài có thể gây ảnh hưởng đến những sinh hoạt cá nhân, gia đình, tâm sinh lý của người phụ nữ và đặc biệt là một số loại u vú có thể dẫn đến ung thư vú sau này. Đa số các phương pháp điều trị hiện nay là xâm lấn cắt bỏ một phần hoặc toàn phần khi phát hiện khối u, vì vậy không thể bảo toàn được chức năng sinh lý vốn có của ngực phụ nữ cũng như không đảm bảo về mặt thẩm mỹ.
Để khắc phục được những nhược điểm của các phương pháp xâm lấn, trong những năm gần đây, dùng Laser công suất thấp để điều trị khối u đang ngày càng được sử dụng phổ biến. Đối với laser công suất thấp hiệu ứng đóng vai trò chủ yếu là hiệu ứng kích thích sinh học. Hiệu ứng sinh học xảy ra khi chùm tia laser tác động lên một hệ sinh học với mật độ công suất khoảng trong khoảng thời gian từ 10 giây đến vài chục phút và diễn ra thông qua hàng loạt các phản ứng quang sinh, quang hóa tạo nên các đáp ứng sinh học. Phương pháp điều trị laser công suất thấp là phương pháp đơn giản, dễ thực hiện, không gây nguy 2 hiểm cho bệnh nhân và chi phí điều trị bệnh thấp phù hợp với nhiều đối tượng bệnh nhân.
Từ các vấn đề trên, Phòng thí nghiệm Công nghệ Laser – Khoa Khoa học ứng dụng – Trường ĐH Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh đã đề xuất đề tài luận văn “Khảo sát sự lan truyền ánh sáng khi sử dụng chùm tia laser công suất thấp tác động lên khối mô bất thường ở ngực” nhằm nghiên cứu phương pháp mới trong điều trị bệnh. Đây cũng chính là bối cảnh hình thành đề tài này.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Mục tiêu chính của đề tài là khảo sát tác động của chùm tia laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị khối mô bất thường ở ngực nhằm: - Lý giải được tác dụng điều trị của laser bán dẫn thông qua làm rõ được tác dụng xuyên sâu của bước sóng đối với mô vú. - Chọn được bước sóng phù hợp để điều trị và xây dựng các mô hình để khảo sát sự lan truyền của ánh sáng đối với khối u bất thường bằng laser bán dẫn công suất thấp.3 NHIỆM VỤ CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI Những nhiệm vụ chính cần thực hiện để đạt được những mục tiêu của luận văn: - Tìm hiểu về sinh lý bệnh u vú lành tính và các vấn đề liên quan đến việc điều trị bệnh hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới - Tìm hiểu tác động sinh học và cơ chế của liệu pháp laser đối với nội tiết tố nữ và u vú lành tính - Xây dựng mô hình và khảo sát sự lan truyền của ánh sáng đối với khối u bất thường ở vú bằng laser bán dẫn công suất thấp - Đưa ra kết quả khảo sát, đánh giá kết quả và nghiên cứu ứng dụng.
3 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 GIẢI PHẪU HỌC TUYẾN VÚ Ở PHỤ NỮ TRƯỞNG THÀNH Vú được cấu tạo bởi 2 thành phần là mô tuyến vú và mô mỡ. Tỉ lệ mô tuyến và mô liên kết thay đổi theo tình trạng hoạt động nội tiết, độ tuổi, thai và cho con bú. Ở phụ nữ trưởng thành, vú nằm giữa xương sườn 2- 6 theo trục dọc và giữa bờ xương ức với đường nách giữa trên trục ngang. Trung bình, đường kính vú đo được là 10-12 cm, và dày 5-7 cm ở vùng trung tâm.
Mô tuyến vú cũng chiếu ra hố nách được gọi là đuôi nách của Spence [2]. Hình dạng của vú rất thay đổi nhưng thường có hình như cái nón ở phụ nữ chưa sinh đẻ và có thể chảy xệ lủng lẳng ở những phụ nữ đã sinh đẻ. Cấu trúc vú gồm 3 thành phần: da, mô dưới da và mô vú, trong đó mô vú bao gồm cả mô tuyến và mô đệm. Phần mô tuyến được chia thành 15-20 phân thuỳ, tất cả đều tập trung về núm vú.
Sữa từ các thuỳ sẽ được đổ vào các ống góp có ở mỗi thuỳ, đường kính khoảng 2 mm, rồi tới các xoang chứa sữa dưới quầng vú có đường kính từ 5 đến 8 cm. Có tất cả khoảng 5 đến 10 ống dẫn sữa mở ra ở núm vú. Tuyến vú: Tuyến vú được xem như một phần phụ của da, có chức năng sản xuất sữa. Tuyến vú là một tuyến lớn, nằm trên thành ngực, phía trên các cơ ngực lớn và bé, có dạng hình bán cầu, với chóp bán cầu là núm vú và quầng vú.
Tuyến vú được cố định bằng một hệ thống cân mạc và dây chằng lỏng lẻo đi từ da đến thành ngực. Núm vú là nơi đổ ra ngoài của hệ thống các ống tuyến sữa. Quầng vú là một quầng sắc tố quanh núm vú. Bên dưới của quầng vú là vị trí mà các ống dẫn sữa dãn rộng ra, gọi là các xoang sữa.
Tuyến vú được cấp máu bởi các mạch máu từ thành ngực. 4 Hệ thống ống dẫn và mạch máu của vú: Có rất nhiều cách gọi tên hệ thống ống dẫn, hệ thống nhánh có thể được gọi tên theo hình dáng, bắt đầu bằng các ống góp ở núm vú và kẻo đài cho tới các ống làm nhiệm vụ dẫn sữa tại mỗi nang. Mỗi ống dẫn ở 1 thuỳ được tạo thành từ các ống dẫn nhỏ hơn của 20-40 tiểu thuỳ. Mô dưới da và mô đệm của vú bao gồm mỡ, các mô liên kết, mạch máu, sợi thần kinh và bạch huyết.
Da vùng vú mỏng, bao gồm các nang lông, tuyến bã và các tuyến mồ hôi. Núm vú nằm ở khoang liên sườn 4, có chứa các tận cùng thần kinh cảm giác, bao gồm các thể Ruffini và các hành tận cùng của Krause. Ngoài ra còn có các tuyến bã và tuyến bán hủy nhưng không có các nang lông. Các củ Morgagni nằm ở rìa quầng vú, được nâng cao lên do miệng các ống tuyến Montgomery.
Các tuyến Montgomery là những tuyến bã lớn, có khả năng tiết sữa, nó là dạng trung gian giữa tuyến mồ hôi và tuyến sữa [2]. Toàn bộ vú được bao bởi cân ngực nông, cân này liên tục với cân nông Camper ở bụng. Mặt dưới của vú nằm trên cân ngực sâu, cân này che phủ phần lớn ngực và cơ răng trước. Hai lớp cân này nối với nhau bởi tổ chức xơ (dây chằng Cooper), là phương tiện nâng đỡ tự nhiên cho vú.
Vú được cấp máu chủ yếu từ các động mạch vú trong và động mạch ngọc bên. Khoảng 60% khối lượng tuyến vú, chủ yếu là phần trung tâm được cấp máu từ các nhánh xiên trước của động mạch vú trong, còn khoảng 30% vú, chủ yếu là 1/4 trên ngoài được cấp máu bởi động mạch ngọc bên. Một số các động mạch khác tham gia cấp máu cho vú là nhánh ngực của động mạch ngực-vai, các nhánh bên của động mạch liên sườn thứ 3, 4 và 5, ngoài ra còn có các động mạch vai và động mạch ngực-lưng. Hệ thống mạch bạch huyết và các ống bạch huyết: Đám rối bạch huyết dưới biểu mô hoặc đám rối bạch huyết nách của vú hoà vào hệ bạch huyết dưới biểu mô của toàn bộ bề mặt cơ thể.
Các mạch bạch huyết không có 5 van này sẽ nối với các mạch bạch huyết dưới da và hợp với đám rối dưới quầng vú Sappey. Đám rối dưới quầng vú nhận các mạch bạch huyết từ núm vú và quầng vú. Bạch huyết chảy không trực tiếp từ các đám rối nông tới các đám rối sâu, và từ đám rối dưới quầng vú qua các mạch bạch huyết của ống dẫn sữa tới các đám rối quanh tiểu thuỳ và các đám rối sâu dưới da. Các mạch bạch huyết quanh ống dẫn sữa nằm ngay phía ngoài lớp cơ-biểu mô của thành ống dẫn.
Dòng chảy bạch huyết từ các mạch bạch huyết trong vú và dưới da sâu hướng tới trung tâm và tới các hạch bạch huyết vùng nách và vú trong. ước tính có khoảng 3% lượng bạch huyết từ vú chảy tới chuỗi hạch vú trong, trong khi 97% chảy tới chuỗi hạch nách. Có thể quan sát được đường đi của bạch huyết tới chuỗi hạch vú trong sau khi tiêm chất đánh dấu phóng xạ vào bất cứ phần tư nào của vú. Hệ bạch dịch của tuyến vú đổ vào nách và hạch vú (cạnh ức), sau đó nối tiếp với hệ thống bạch dịch trên xương đòn.
Xương đòn là một mốc quan trọng để đánh giá mức độ di căn hạch của các ung thư vú. Khảo sát các hạch nách và hạch thượng đòn là một nội dung quan trọng khi hướng dẫn người phụ nữ tự khám vú cũng như khi thực hiện đánh giá giai đoạn qua phẫu thuật các khối u vú. Các nghiên cứu giải phẫu định khu cho thấy. các hạch lympho nách là con đường lan tràn chủ yếu của ung thư vú tiên phát.
Có rất nhiều nghiên cứu phân loại giải phẫu của các hạch lympho nách, chi tiết nhất là nghiên cứu của Pickren về giải phẫu bệnh lý của hạch. Các hạch nách có thể được gộp lại thành các nhóm hạch vùng đỉnh, hạch dưới đòn giữa cơ ngực bé, nhóm hạch nằm dọc tĩnh mạch nách chạy từ cơ ngực bé tới thành bên hố nách; các hạch giữa cơ ngực (interpectoral) (hạch Rotter), nằm giữa cơ ngực lớn và cơ ngực bé, dọc theo thần kinh ngạc bên; nhóm hạch vai, gồm các hạch nằm dọc các mạch dưới vai; và nhóm hạch trung tâm nằm dưới bờ bên cơ ngực lớn và phía dưới cơ ngực bé. Các nhóm khác có thể gồm nhóm hạch ngoài vú, nằm ở đuôi nách và nhóm hạch cạnh vú nằm ở tổ chức mỡ dưới da 1/4 trên ngoài của vú. Các hạch vú trong nằm ở khoang liên sườn vùng cạnh xương ức, các hạch nằm gần động mạch 6 vú trong, trong tổ chức mỡ ngoài màng phổi và được phân bố trong các khoang liên sườn.