CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về người cao tuổi 1. Định nghĩa Lão hóa là một quá trình sinh học tự nhiên mang tính tất yếu ngoài tầm kiểm soát của con người.
Tùy theo đặc trưng của từng xã hội mà già hóa có ý nghĩa khác nhau. Vì vậy, khái niệm người cao tuổi không giống nhau ở những quốc gia, khu vực khác nhau trên thế giới. Với đa số các quốc gia phát triển, độ tuổi quy định là người cao tuổi phải từ 65 tuổi trở lên. Để thuận tiện cho việc so sánh giữa các quốc gia, liên hiệp quốc chấp nhận mốc để xác định dân số NCT là từ 60 tuổi trở lên [8].
Quy định này cũng được đề cập trong Luật người cao tuổi của Việt Nam [9]. Một số đặc trưng nhân khẩu học của người cao tuổi trên thế giới và Việt Nam Già hóa dân số là một hiện tượng mang tính toàn cầu, xảy ra ở mọi quốc gia và ảnh hưởng đến mọi quốc gia, dân tộc. Dân số NCT ở nhiều nước trên thế giới đang tăng nhanh và sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới cả về số lượng cũng như tỷ lệ trong tổng dân số [3]. Mặc dù NCT đều tăng ở tất cả các nơi trên thế giới, nhưng tốc độ phát triển nhanh nhất lại diễn ra ở các nước đang phát triển.
Trung bình mỗi năm, dân số NCT trên thế giới có thêm 29 triệu người, trên 80% số này ở các nước đang phát triển. Như một kết quả tất yếu, tỷ lệ dân số NCT sống ở các nước đang phát triển năm 2010 là 65% sẽ tăng lên 80% vào năm 2050 [1]. Ở đại đa số các quốc gia, tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên sống ở khu vực nông thôn cao hơn thành thị, mặc dù tỷ suất sinh ở nông thôn cao hơn thành thị và cơ cấu dân số lẽ ra phải trẻ hơn thành thị. Lý do của hiện tượng này là do có nhiều người trẻ tuổi trong độ tuổi lao động di cư ra thành thị để tìm 4 kiếm việc làm.
Có một sự khác biệt lớn về đặc điểm dân số giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển. Ở các nước phát triển, phần lớn NCT sống ở khu vực thành thị, trong khi đó phần lớn NCT ở các nước đang phát triển lại sống ở khu vực nông thôn [1]. Xu hướng nữ giới sống lâu hơn nam giới làm cho tỷ số giới tính ở người từ 60 tuổi trở lên có một khoảng cách tương đối rõ ràng. Tỷ lệ nữ giới ở những người tuổi từ 60 trở lên là 54%, tỷ lệ này khoảng 63% ở những người tuổi từ 80 trở lên và cao hơn nữa ở lứa tuổi 100 [1].
Chỉ số giới tính ở NCT Việt Nam cũng có những đặc điểm tương tự như các quốc gia khác trên thế giới cụ thể là: tuổi càng cao thì tỷ lệ nam giới càng thấp. Tỷ số giới tính càng thấp khi tuổi thọ trung bình được tăng lên và vì vậy tỷ số giới tính ở NCT Việt Nam có xu hướng giảm dần theo thời gian [2]. Đặc điểm sức khỏe người cao tuổi Người cao tuổi thường kết hợp những suy giảm về chức năng của các cơ quan, tổ chức trong cơ thể làm cho sức khỏe người cao tuổi bị suy giảm thường mắc bệnh mạn tính. Kết quả những nghiên cứu gần đây về sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam cho thấy: Có khoảng từ 18,1- 57,7% người cao tuổi tự đánh giá có sức khỏe kém 4/5 số người cao tuổi mắc các bệnh mạn tính và trung bình mỗi người cao tuổi có khoảng 2,1 bệnh mạn tính [3], [10].
Thách thức lớn nhất đối với việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi hiện nay là mô hình và nguyên nhân bệnh tật của NCT đang thay đổi nhanh chóng khiến cho gánh nặng “bệnh tật kép” ngày càng rõ. Một mặt, NCT đang phải chịu nhiều bệnh do lão hóa gây ra; mặt khác, NCT cũng phải chịu các bệnh phát sinh do thay đổi lối sống dưới tác động của quá trình tăngtrưởng và phát triển kinh tế. Những bệnh thường gặp ở người cao tuổi là các bệnh mạn tính như: bệnh mạch vành, tăng huyết áp (THA), đột quỵ, đái tháo đường, ung thư, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, thoái hóa khớp, loãng xương, sa sút trí tuệ, 5 trầm cảm, mù lòa và giảm thị lực; các bệnh này là nguyên nhân chính gây giảm sút sức khoẻ ở người cao tuổi [11]. Trên thế giới Khi các Quốc gia tiến hành công nghiệp hóa, việc thay đổi lối sống và việc làm là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi về mô hình bệnh tật.
Ở các quốc gia phát triển, mối quan tâm hàng đầu về sức khỏe là phòng ngừa và điều trị các bệnh mạn tính (tim mạch, ung thư, tiểu đường, rối loạn chuyển hóa, Alzheimer), tăng hiệu quả chăm sóc nội trú, cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu có hiệu quả, dịch vụ chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi [12]. Trong khi các nước đang phát triển phải tiếp tục giải quyết các bệnh lây nhiễm, suy dinh dưỡng… đồng thời phải đối phó với sự gia tăng nhanh chóng các bệnh không lây truyền trong điều kiện hệ thống chăm sóc sức khỏe còn nhiều thiếu thốn. Tại các nước phát triển, tuổi già là nguyên nhân dẫn đến tình trạng tàn phế và các bệnh mạn tính. Những tàn phế thường gặp là giảm thị lực, giảm thính lực và ngã chấn thương [13].
Trên thế giới có khoảng 180 triệu người bị tàn phế về thị giác, khoảng 4% NCT bị khiếm thị mà nguyên nhân chính là do đục thuỷ tinh thể, tăng nhãn áp, thoái hoá điểm vàng và bệnh võng mạc do đái tháo đường. Người cao tuổi cũng dễ bị mắc các bệnh do rối loạn chuyển hóa. Nghiên cứu của Lai S.123 NCT (>65 tuổi) thấy hàm lượng acid uric trung bình là 7.4 ± 1,6mg/dl ở nam giới và 6,3 ±1,6 mg/dl ở nữ giới. Các yếu tố có liên quan với tăng acid uric máu là bệnh lý thận mạn, tăng cholesterol và triglyceride máu [14].
Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy các yếu tố như thái độ hành vi, lối sống ít vận động, dinh dưỡng không hợp lý, thói quen hút thuốc lá và uống rượu cũng góp phần ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của NCT. Việt Nam Mô hình bệnh tật của người cao tuổi Việt Nam là mô hình chuyển từ bệnh lây nhiễm sang bệnh mạn tính, không lây nhiễm. Đây đang là một thách thức lớn vì các bệnh không lây nhiễm thường có thời gian tiềm tàng kéo dài với các tình trạng tiền bệnh như thừa cân, béo phì, tăng huyết áp, rối loạn glucose máu và một số rối loạn chuyển hóa khác [15], [16]. Bệnh không lây nhiễm có chung các yếu tố nguy cơ, các yếu tố này được chia làm 3 nhóm: các yếu tố về hành vi, lối sống (thói quen hút thuốc, lạm dụng rượu bia, chế độ dinh dưỡng không hợp lý (ăn ít rau, nhiều thịt.), thói quen ít vận động; các yếu tố về môi trường (môi trường tự nhiên, môi trường chính trị, xã hội, kinh tế); các yếu tố nguy cơ không thay đổi được (tuổi, giới tính, chủng tộc.
Điều đáng nói là nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm tăng dần theo tuổi do sự phơi nhiễm trong một thời gian dài các bộ phận chức năng của cơ thể và giảm khả năng hệ thống miễn dịch [18]. Năm 1996, tỷ lệ mắc bệnh lây nhiễm chiếm 37%, trong đó chết là 33%; bệnh không lây nhiễm theo thứ tự là 50% và 43%; đến năm 2005, bệnh lây nhiễm giảm còn 25% và 16%; các bệnh không lây nhiễm lại tăng cao 62%, trong đó tỷ lệ chết là 61%. Vì vậy, đối với người cao tuổi Việt Nam, bệnh không lây nhiễm lại càng trở nên nghiêm trọng hơn và việc điều trị rất tốn kém do bệnh thường chỉ được phát hiện ở giai đoạn muộn. Nghiên cứu của Phạm Thắng và Đỗ Thị Khánh Hỷ (2009) chỉ ra rằng nguy cơ khuyết tật của người cao tuổi ở Việt Nam cũng rất cao, trong đó khuyết tật thường gặp là mất thị lực và thính lực [8], [13].
Tình trạng này có thể khiến cho người cao tuổi bối rối, tự ti và giảm giao tiếp xã hội. Xét theo độ tuổi, kết quả từ Tổng Điều tra Dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy tỷ lệ khuyết tật của người cao tuổi tăng lên khi tuổi cao hơn. Nghiên cứu của Đàm Hữu Đắc và cộng sự (2010) cho thấy 95% người cao tuổi có bệnh và chủ yếu 7 là các bệnh như: xương khớp (40,62%); tim mạch và huyết áp (45,6%); tiền liệt tuyến (63,8%); rối loạn tiểu tiện (35,7%) và phổi phế quản tắc nghẽn mạn tính (12,6%) [19]. Những bệnh tật phát sinh do thay đổi lối sống như sa sút tâm thần và trầm cảm lại có xu hướng tăng và tỷ lệ người cao tuổi mắc các bệnh này tăng lên khi tuổi cao.
Tình hình ung thư tế bào gan trên thế giới và Việt Nam Ung thư tế bào gan là bệnh ác tính nguyên phát thường gặp nhất ở gan, chiếm tỷ lệ khoảng 85-90% [20]. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế Giới (Globocan 2012), tại Việt Nam, UTBMTBG có xuất độ cao nhất và là nguyên nhân tử vong do ung thư đứng đầu ở giới nam. Ở nữ giới, ung thư gan xếp vị trí thường gặp thứ 3 nhưng là nguyên nhân gây tử vong thứ 2 sau ung thư phổi. Khoảng 80-90% UTBMTBG xuất hiện trên nền gan viêm mạn tính xơ hóa và đa số phát triển từ viêm gan do siêu vi [21].
Theo thống kê khoảng 25- 55% bệnh nhân UTBMTBG ở các nước phát triển và Âu Mỹ có nhiễm siêu vi viêm gan C [4]. Trong khi đó tại các nước vùng Đông Nam Á như Việt Nam tỷ lệ nhiễm viêm gan B chiếm ưu thế hơn [4]. Nhờ sự phát triển của y học, vấn đề chẩn đoán và điều trị bệnh UTBMTBG hiện nay có nhiều thay đổi và tiến bộ. UTBMTBG có xu hướng được chẩn đoán sớm hơn nhờ vào các chương trình tầm soát ở nhóm BN nguy cơ.
Các phương tiện chẩn đoán hình ảnh có thể phát hiện và chẩn đoán bản chất khối u kích thước nhỏ với độ chính xác cao mà không cần sinh thiết. Chẩn đoán bệnh sớm, đánh giá giai đoạn (GĐ) bệnh chính xác, phương pháp điều trị đa dạng- hiệu quả, điều trị ít xâm lấn là những tiến bộ trong thời gian gần đây nhằm nâng cao chất lượng điều trị cho BN. UTBMTBG ở người cao tuổi trong nhiều nghiên cứu thường gặp ở nữ nhiều hơn nam, có thể do tuổi thọ phụ nữ cao hơn [48]. Và liên quan chủ yếu đến nhiễm VGSV C.