Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng phƣơng pháp cắt khối tá tụy kèm nạo hạch triệt để trong điều trị ung thƣ vùng đầu tụy

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu ứng dụng phƣơng pháp cắt khối tá tụy kèm nạo hạch triệt để trong điều trị ung thƣ vùng, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Chuyên ngành

Ngoại Tiêu Hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Y Học

2020

189
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về ung thư đầu tụy

Ung thư đầu tụy là một trong những loại ung thư tiêu hóa phổ biến và nguy hiểm. Theo thống kê, ung thư đầu tụy thường được phát hiện ở giai đoạn muộn, dẫn đến tỷ lệ sống sót thấp. Phẫu thuật cắt khối tá tụy (PTCKTT) là phương pháp điều trị chính, với tỷ lệ sống còn sau mổ 1, 3 và 5 năm lần lượt là 80%, 40% và 15%. Tuy nhiên, nếu không can thiệp, tỷ lệ sống còn sau 5 năm gần như bằng 0%. Do đó, việc nạo hạch triệt để trong phẫu thuật này được xem là yếu tố quan trọng giúp kéo dài thời gian sống còn cho bệnh nhân. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của phương pháp cắt khối tá tụy kèm nạo hạch triệt để trong điều trị ung thư đầu tụy.

1.1. Tình trạng hiện tại của ung thư đầu tụy

Tình trạng ung thư đầu tụy hiện nay đang trở thành một vấn đề y tế nghiêm trọng. Tại Hoa Kỳ, hàng năm có hơn 30.000 ca tử vong do bệnh này. Phẫu thuật là phương pháp duy nhất có khả năng chữa khỏi, tuy nhiên, tỷ lệ sống còn vẫn còn thấp so với các loại ung thư khác. Việc đánh giá di căn hạch và nạo hạch triệt để đã được nhiều nghiên cứu chỉ ra là yếu tố quan trọng trong việc cải thiện tiên lượng sống cho bệnh nhân. Nghiên cứu này sẽ cung cấp thông tin chi tiết về tỷ lệ di căn hạch và hiệu quả của phương pháp phẫu thuật này.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Chợ Rẫy, nơi có đầy đủ trang thiết bị và đội ngũ bác sĩ có kinh nghiệm. Mẫu nghiên cứu bao gồm các bệnh nhân được chẩn đoán ung thư đầu tụy và chỉ định phẫu thuật cắt khối tá tụy kèm nạo hạch triệt để. Các tiêu chí chọn bệnh và loại trừ được xác định rõ ràng để đảm bảo tính chính xác của kết quả. Phương pháp thu thập dữ liệu bao gồm phỏng vấn bệnh nhân, theo dõi quá trình phẫu thuật và đánh giá các biến chứng sau mổ.

2.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp hồi cứu, phân tích dữ liệu từ các bệnh nhân đã phẫu thuật trong khoảng thời gian từ 2012 đến 2016. Các biến số độc lập và phụ thuộc được xác định rõ ràng, bao gồm tuổi tác, giới tính, giai đoạn bệnh và tình trạng sức khỏe trước mổ. Phương pháp phân tích dữ liệu sẽ sử dụng các công cụ thống kê để đánh giá mối liên hệ giữa các yếu tố này với tỷ lệ sống còn và biến chứng sau mổ.

III. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ di căn hạch trong ung thư đầu tụy là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tiên lượng sống. Các biến chứng sau mổ được ghi nhận, bao gồm thời gian hồi phục và tỷ lệ tử vong. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phẫu thuật cắt khối tá tụy kèm nạo hạch triệt để có thể cải thiện đáng kể thời gian sống còn cho bệnh nhân. Tỷ lệ sống còn sau 1, 2, 3 và 4 năm được ghi nhận và phân tích để đưa ra những kết luận chính xác về hiệu quả của phương pháp này.

3.1. Tỷ lệ sống còn và biến chứng

Tỷ lệ sống còn sau phẫu thuật cắt khối tá tụy kèm nạo hạch triệt để cho thấy sự cải thiện rõ rệt so với các phương pháp điều trị khác. Biến chứng sau mổ được theo dõi và đánh giá, cho thấy rằng mặc dù có một số rủi ro, nhưng lợi ích từ việc nạo hạch triệt để là rất lớn. Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng cho thấy phương pháp này không chỉ an toàn mà còn hiệu quả trong việc kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân ung thư đầu tụy.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Ung thƣ vùng đầu tụy bao gồm: ung thƣ đầu tụy, ung thƣ đoạn cuối ống mật chủ và ung thƣ bóng Vater, là bệnh gây tử vong thƣờng gặp trong các loại ung thƣ tiêu hóa gan mật. Đây là bệnh ác tính thƣờng phát hiện ở giai đoạn trễ với tiên lƣợng sống thấp. Tại Hoa Kỳ, hàng năm có trên 30.000 bệnh nhân tử vong về bệnh này [51]. Cho đến thời điểm hiện tại, phẫu thuật là phƣơng pháp duy nhất chữa khỏi bệnh đối với ung thƣ vùng đầu tụy.

Trong đó, phẫu thuật cắt khối tá tụy (PTCKTT) là phƣơng pháp điều trị triệt để nhất với tỉ lệ sống còn sau mổ 1, 3 và 5 năm lần lƣợt là 80%, 40% và 15%; và ngƣợc lại, nếu để theo diễn tiến tự nhiên của bệnh, tỉ lệ sống còn sau 5 năm gần nhƣ 0% [17]. Mặc dù có nhiều cải thiện về kĩ thuật cũng nhƣ phƣơng tiện phẫu thuật, thời gian sống còn trung và dài hạn của bệnh nhân ung thƣ vùng đầu tụy vẫn còn thấp so với các ung thƣ đƣờng tiêu hóa khác [47]. Do đó, vấn đề đánh giá di căn hạch và nạo hạch triệt để đã đƣợc rất nhiều tác giả xem xét nhƣ là một trong các yếu tố quan trọng nhất giúp kéo dài sống còn sau mổ trên những bệnh nhân này [32, 37, 54, 68, 80, 97, 142]. Tuy vậy, tính hiệu quả và độ an toàn của phẫu thuật cắt khối tá tụy k m nạo hạch triệt để (PTCKTTNHTĐ) so với PTCKTT vẫn còn nhiều tranh cãi.

Hơn nữa, do sự phức tạp về kĩ thuật, hiệu quả cũng nhƣ độ an toàn của phƣơng pháp này có khác nhau trong nhiều báo cáo đƣợc công bố ở các tạp chí ở quốc tế [50], [62], [107], [114], [133], [158]. Tại Việt Nam, có rất ít công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, đa số các phẫu thuật viên mổ cắt khối tá tụy chỉ là cắt u kèm các cơ quan cận u nhƣ bán phần dƣới dạ dày, khung tá tràng, đầu tụy, đƣờng mật ngoài gan, đoạn đầu hỗng tràng mà không nạo hạch hoặc nếu có nạo hạch thì cũng chƣa thấy có luan an 2 báo cáo nào mô tả nạo hạch đúng chuẩn nhƣ các báo cáo nƣớc ngoài [2], [4], [6], [8]. Cắt khối tá tụy kèm nạo hạch triệt để là phẫu thuật khó, đòi hỏi cơ sở thực hiện phải có trang thiết bị đầy đủ, phẫu thuật viên có đủ trình độ và kinh nghiệm trong phẫu thuật cắt khối tá tụy kinh điển cũng nhƣ nơi thực hiện phẫu thuật phải thƣờng xuyên có bệnh phẫu thuật. Bệnh viện Chợ Rẫy là một bệnh viện tuyến cuối của miền Nam thực hiện rất nhiều phẫu thuật lớn, khó và phức tạp.

Theo thống kê không chính thức (báo cáo của phòng kế hoạch tổng hợp), tại bệnh viện Chợ Rẫy số lƣợng bệnh nhân bị ung thƣ vùng đầu tụy mỗi năm cần phẫu thuật cắt khối tá tụy khoảng 40 - 50 trƣờng hợp. Phẫu thuật này cũng đƣợc triển khai khá lâu từ năm 1996 [2], [3]. Cho đến gần cuối kỳ nghiên cứu trong nghiên cứu này, chúng tôi cũng xem đƣợc một báo cáo của bệnh viện Chợ Rẫy với số liệu thống kê trong vòng 5 năm từ 2012 đến 2016 có 226 bệnh nhân đƣợc phẫu thuật cắt khối tá tụy do ung thƣ vùng đầu tụy (trung bình 45 ca/1 năm) [9]. Nhƣ vậy nghiên cứu này chúng tôi nghĩ có thể thực hiện đƣợc tại bệnh viện Chợ Rẫy với đầy đủ trang thiết bị, trình độ phẫu thuật viên, số mẫu nghiên cứu… Với tính cần mẫn, chịu khó, lòng đam mê, bản thân nghiên cứu viên cũng có nhiều kinh nghiệm trong phẫu thuật cắt khối tá tụy.

Kết hợp với sự dìu dắt, hƣớng dẫn của thầy hƣớng dẫn, chúng tôi mong muốn thực hiện nghiên cứu này tại khoa ngoại gan mật tụy bệnh viện Chợ Rẫy với mong muốn ứng dụng một kỹ thuật tƣơng đối mới, mặc dù đã có nhiều báo cáo trên thế giới nhƣng ở trong nƣớc chƣa có một báo cáo nào đề cập đến tính hiệu quả của phẫu thuật cắt khối tá tụy kèm nạo hạch triệt để. Tuy nhiên để thực hiện thành công nghiên cứu này chúng tôi đƣa ra một số câu hỏi nghiên cứu mà chƣa có một lời giải đáp thuyết phục nào trong số ít ỏi nghiên cứu trong luan an 3 nƣớc nhƣ vị trí và tỉ lệ di căn hạch? Phẫu thuật này có an toàn so với nạo hạch tiêu chuẩn không? Trong đó quan trọng nhất là có giúp cải thiện thời gian sống còn sau mổ hay không? Chính vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài: ―Nghiên cứu ứng dụng phương pháp cắt khối tá tụy kèm nạo hạch triệt để trong điều trị ung thư vùng đầu tụy" nhằm giải quyết các vấn đề trên. Dựa vào cơ sở các câu hỏi nghiên cứu chúng tôi thƣc hiện đề tài này với các mục tiêu cụ thể nhƣ sau: 1. Xác định tỉ lệ hạch bạch huyết bị di căn theo từng vị trí trong các bệnh ung thƣ vùng đầu tụy đƣợc phẫu thuật nạo hạch triệt để.

Xác định tai biến, biến chứng và tỉ lệ tử vong của phẫu thuật cắt khối tá tụy kèm nạo hạch triệt để. Xác định tỉ lệt sống còn toàn bộ, sống còn không bệnh sau 1-2-3-4 năm. Các yếu tố ảnh hƣởng đến thời gian sống và tái phát sau mổ. luan an 4 Chƣơng 1.

GIẢI PHẪU HỌC VÙNG ĐẦU TỤY 1. Cấu tạo khối tá tụy Hình 1.1: Khối tá tụy “Nguồn: Cesmebasi A. Tá tràng Tá tràng có dạng hình chữ ―C‖, dài khoảng 25 – 28 cm, đƣờng kính ngoài từ 3 - 4 cm, giảm dần từ trên xuống, gồm 4 đoạn: Phần trên: thƣờng gọi là D1, 2/3 trƣớc của phần trên hơi phình to và di động, gọi là hành tá tràng. Phần trên tá tràng nằm phía bên phải cột sống, ngang mức đốt sống thắt lƣng I.

Phần xuống: thƣờng đƣợc gọi là D2, tạo với phần trên thành góc tá tràng trên. Phần này nằm bên phải cột sống, đi từ cột sống thắt lƣng I đến cột sống thắt lƣng III. Mặt trƣớc phần xuống có đoạn liên quan đến đại tràng ngang và dính với nhau bằng mô liên kết lỏng lẻo. Phía sau liên quan với thận phải, tĩnh mạch chủ dƣới và cơ thắt lƣng lớn.

Phía trong liên quan với đầu luan an 5 tụy, ống mật chủ và phía ngoài liên quan với đại tràng góc gan. Phần xuống có 2 nhú tá tràng: Nhú tá lớn: nằm ở thành trong phần xuống, cách lỗ môn vị từ 8 – 10 cm, tại nhú tá lớn có lỗ đổ của ống mật chủ và ống tụy chính. Nhú tá bé: cũng nằm ở thành trong, trên nhú tá lớn 2 cm, tại nhú tá bé có lỗ đổ của ống tụy phụ. Phần ngang: còn gọi là D3, hợp với phần xuống tạo thành góc tá tràng dƣới.

Phần này nằm vắt ngang qua cột sống, giữa đốt sống thắt lƣng III và đốt sống thắt lƣng IV, trƣớc tĩnh mạch chủ dƣới và động mạch chủ bụng. Phía trƣớc có phúc mạc bao phủ, liên quan đến rễ mạc treo ruột non. Phía sau có liên quan đến niệu quản phải, cơ thắt lƣng lớn bên phải, động mạch sinh dục phải, tĩnh mạch chủ dƣới và động mạch chủ bụng. Phía trên phần ngang liên quan đến đầu tụy và phía dƣới liên quan đến các quai hỗng tràng.

Phần lên: thƣờng gọi là D4, nằm ngang bờ trên đốt sống thắt lƣng II, nối với hỗng tràng bằng góc tá hỗng tràng. Có một số trƣờng hợp phần ngang nằm chếch lên trên, khi đó khó phân định đƣợc giữa phần ngang và phần lên. Tụy Tụy có hình dạng của một cái búa, vắt ngang trƣớc cột sống thắt lƣng, đi từ phần xuống tá tràng đến rốn lách, dài khoảng 15 cm, gồm 4 phần chính: Đầu tụy: nằm trong khung tá tràng, phía dƣới có một phần nhỏ gọi là mỏm móc, nằm kẹp giữa động mạch chủ bụng ở phía sau và bó mạch mạc treo tràng trên ở phía trƣớc. Mặt sau đầu tụy liên quan với tĩnh mạch chủ dƣới, tĩnh mạch thận phải và trụ phải của cơ hoành.

Cổ tụy: còn gọi là khuyết tụy, mặt sau cổ tụy có liên quan đến tĩnh mạch mạc treo tràng trên và đoạn đầu tiên của tĩnh mạch cửa. Thân tụy: liên tiếp với cổ tụy, có ba mặt là mặt trƣớc, mặt dƣới và mặt sau và ba bờ là bờ trên, bờ trƣớc và bờ dƣới. luan an 6 Đuôi tụy: tiếp nối thân tụy, hƣớng về rốn lách, nằm giữa hai lá của dây chằng lách – thận cùng bó mạch lách.2: Các thành phần của tụy “Nguồn: Cesmebasi A. Bóng Vater Thuật ngữ ―bóng Vater‖ đƣợc đề cập lần đầu tiên vào năm 1720 bởi nhà giải phẫu học ngƣời Đức Abraham Vater (1684 – 1751).

Ống mật chủ sau khi đi qua tụy, đi qua các lớp cơ của tá tràng kết hợp với ống tụy chính (ống Wirsung) tạo thành kênh chung còn gọi là bóng Vater. Bóng Vater là một mốc quan trọng về mặt giải phẫu học, là ranh giới chuyển tiếp giữa ruột trƣớc và ruột giữa thời kì phôi thai và cũng là nơi chuyển đổi cấp máu từ động mạch thân tạng sang động mạch mạc treo tràng trên. Niêm mạc bóng Vater là biểu mô đơn, có những nếp dọc và vòng hoạt động nhƣ một van giúp ngăn trào ngƣợc dịch tá tràng vào ống mật chủ hay ống tụy. Cấp máu cho bóng Vater có 3 nguồn chính: nhóm động mạch xuyên, các nhánh mạch máu vị tá tràng trƣớc và sau.

Các nhánh mạch máu này tận cùng tại thành tá tràng hay thành ống mật chủ/ ống tụy và tập trung chủ yếu ở 1/4 trên trƣớc hay 1/4 dƣới sau của nhú tá lớn. Cơ vòng Oddi Đƣợc đề cập lần đầu bởi Francis Glisson năm 1654, sau đó đƣợc mô tả chi tiết bởi Ruggero Oddi năm 1887. Cơ vòng Oddi đƣợc xem là một phức hợp cơ gồm các sợi xuất phát từ lớp cơ vòng và cơ dọc của tá tràng, thay thế cho lớp cơ thắt ở đoạn cuối ống mật chủ và ống tụy (Hình 1. Chức năng chính của cơ vòng Oddi là kiểm soát sự lƣu thông của dịch mật và dịch tụy đổ vào lòng tá tràng.3: Cơ vòng Oddi “Nguồn: Cesmebasi A.

Hệ thống mạch máu 1. Động mạch Động mạch tá – tụy trƣớc trên và sau trên xuất phát từ động mạch vị tá tràng. Động mạch tá – tụy trƣớc dƣới và sau dƣới xuất phát từ động mạch mạc treo tràng trên. Bốn động mạch này thông nối với nhau, cấp máu cho tá tràng, đoạn đầu hỗng tràng và cổ tụy.4: Động mạch cấp máu cho khối tá tụy “Nguồn Carolyn C.

Tĩnh mạch Gồm tĩnh mạch tá – tụy trƣớc trên và sau trên, trƣớc dƣới và sau dƣới, tĩnh mạch cổ tụy, tĩnh mạch vị mạc nối phải…các nhánh này cuối cùng đổ về tĩnh mạch cửa.5: Tĩnh mạch cấp máu cho khối tá tụy “Nguồn Carolyn C.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu ứng dụng phương pháp cắt khối tá tụy và nạo hạch triệt để trong điều trị ung thư vùng đầu tụy" của tác giả Đoàn Tiến Mỹ, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Tấn Cường và TS. Phạm Hữu Thiện, được thực hiện tại Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh vào năm 2020. Nghiên cứu này tập trung vào việc áp dụng các phương pháp phẫu thuật tiên tiến nhằm cải thiện hiệu quả điều trị cho bệnh nhân mắc ung thư vùng đầu tụy, một trong những loại ung thư có tỷ lệ tử vong cao. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình phẫu thuật mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nạo hạch triệt để trong việc nâng cao tỷ lệ sống sót cho bệnh nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp điều trị ung thư và các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết "Nghiên cứu ứng dụng phương pháp cắt khối tá tụy và nạo hạch trong điều trị ung thư vùng đầu tụy", nơi cung cấp thông tin chi tiết về ứng dụng của phương pháp này trong thực tiễn. Ngoài ra, bài viết "Nghiên cứu điều trị bảo tồn ung thư nguyên bào võng mạc bằng laser diode" cũng có thể mang lại những góc nhìn mới về các phương pháp điều trị ung thư hiện đại. Cuối cùng, bài viết "Nghiên cứu điều trị ung thư vú giai đoạn di căn bằng hóa trị anthracycline và taxane" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp hóa trị trong điều trị ung thư. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp điều trị ung thư hiện nay.