CHƯƠNG I BỐI CẢNH HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI, MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ LUẬN VĂN 1. Bối cảnh hình thành đề tài luận văn Theo điều tra của Bộ Y tế, tỷ lệ nữ giới mắc bệnh phụ khoa mỗi năm tăng từ 15- 27%. Những nghiên cứu gần đây cho thấy viêm nhiễm đường sinh dục là những bệnh thường gặp trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Điều này có nghĩa như một báo động về nguy cơ sức khỏe của người phụ nữ.
Vì vậy, vấn đề chăm sóc sức khỏe phụ khoa đối với phụ nữ là rất quan trọng. Do tính chất phổ biến và hậu quả nặng nề của viêm nhiễm tử cung và việc chẩn đoán, điều trị của viêm nhiễm tử cung ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn do thiếu cán bộ chuyên khoa có kinh nghiệm và thiếu trang thiết bị, bệnh dễ tái phát. Viêm nhiễm đường sinh dục là nguyên nhân gây ra nhiều rối loạn ảnh hưởng đến sức khoẻ, đời sống, khả năng lao động và đặc biệt là sức khoẻ sinh sản. Nếu không phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể gây ra những hậu quả nặng nề như: Viêm tiểu khung, mang thai ngoài tử cung, vô sinh, ung thư cổ tử cung, tăng nguy cơ lây truyền HIV, HPV …vv.
Ở phụ nữ có thai bị viêm cổ tử cung có thể gây ra hậu quả như sảy thai, đẻ non, thai lưu, ối vỡ non, nhiễm khuẩn ối, nhiễm khuẩn sơ sinh và thậm chí dị tật bẩm sinh. Người phụ nữ đảm trách thiên chức làm mẹ và bộ phận vô cùng quan trọng trong nhiệm vụ đó là tử cung. Do cấu tạo hệ sinh dục mở ra bên ngoài nên rất dễ bị vi khuẩn xâm nhập gây nên tình trạng viêm nhiễm. Một số trường hợp không điều trị kịp thời hoặc điều trị không đúng cách sẽ khiến bệnh diễn ra kinh niên, gây biến chứng.
10 Với tỷ lệ mắc bệnh ngày càng gia tăng, là nguy cơ lớn cho sức khỏe phụ nữ. Mặc dù các bệnh viêm nhiễm tử cung không gây tử vong tức thời nhưng gây ảnh hưởng đến sinh hoạt cá nhân, gia đình, gây ảnh hưởng tới tâm sinh lý của người phụ nữ. Đa số các phương pháp điều trị hiện nay là phương pháp xâm lấn, cắt bỏ một phần hoặc toàn phần khi viêm nhiễm nặng và biến chứng. Điều này làm mất khả năng sinh sản ở phụ nữ, ảnh hưởng đến đời sống.
Để khắc phục các nhược điểm vừa nêu, trong những năm gần đây việc nghiên cứu ứng dụng Laser He-Ne làm việc ở bước sóng 632,8nm điều trị viêm nhiễm cổ tử cung, viêm lộ tuyến cổ tử cung được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Khi sử dụng laser khí He-Ne mang lại nhiều ưu điểm: - Hiệu quả cao so với phương pháp nội khoa; - Kỹ thuật đơn giản có thể phổ cập rộng rãi; - Không gây đau. Tuy nhiên trên lâm sàng gặp phải một số nhước điểm khó khắc phục: - Gía trị công suất laser khí He-Ne là nhất định, không điều chỉnh được; - Thiết bị cồng kềnh Từ những phân tích trên, phòng thí nghiệm Công nghệ Laser – Khoa Khoa học Ứng dụng đề xuất việc nghiên cứu “Ứng dụng laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị bệnh viêm cổ tử cung”. Mục tiêu của đề tài luận văn 1.1 Mục tiêu trước mắt Mục tiêu chính của đề tài là nghiên cứu ứng dụng của laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị bệnh viêm cổ tử cung, nhằm đạt được các tiêu chí: - Hiệu quả điều trị cao; 11 - Kỹ thuật đơn giản trong điều trị và vận hành thiết bị; - Độ an toàn trong điều trị tuyệt đối: + Không gây tai biến và phản ứng phụ có hại cho sức khỏe bệnh nhân trong quá trình điều trị, cũng như sau khi kết thúc chữa trị.
+ Tránh được sự lây lan bệnh. - Điều trị không gây đau và khó chịu cho bệnh nhân; - Bảo tồn các chức năng vốn có; - Giá thành điều trị thấp so với các phương pháp điều trị khác. Mục tiêu lâu dài Tổ chức nghiên cứu điều trị lâm sàng với số lượng lớn bệnh nhân bị viêm cổ tử cung bằng laser bán dẫn công suất thấp. Trên cơ sở ấy, đánh giá toàn diện về phương pháp điều trị mới này.
Nhiệm vụ của đề tài luận văn Mục tiêu chính của đề tài là nghiên cứu ứng dụng của laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị bệnh viêm cổ tử cung. Để hoàn thành tốt mục tiêu của đề tài, cần phải thực hiện các nhiệm vụ chính sau đây: a) Tổng quan các vấn đề chính liên quan trực tiếp đến đề tài. b) Cơ sở lý thuyết của việc ứng dụng quang châm-quang trị liệu laser bán dẫn loại 8 kênh với laser bán dẫn nội tĩnh mạch cho phương pháp điều trị viêm cổ tử cung. c) Xây dựng phương pháp điều trị viêm cổ tử cung bằng sự kết hợp quang châm-quang trị liệu laser bán dẫn loại 8 kênh với laser bán dẫn nội tĩnh mạch.
d) Kết quả điều trị viêm cổ tử cung bằng laser bán dẫn công suất thấp. 12 CHƯƠNG II TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 2. Những vấn đề cơ bản về giải phẫu tử cung Tử cung là cơ quan chứa thai và tống thai ra ngoài khi sinh, tử cung nằm trong chậu hông, ngay trên đường giữa, phía sau bàng quang, trước trực tràng và dưới các quai ruột non, kết tràng sigma và trên âm đạo. Kích thước dầy 2cm, cao 6cm, bề ngang chổ rộng nhất là 4cm.
Tử cung gồm đáy, thân và cổ tử cung. Thân tử cung - Mặt bàng quang: có phúc mạc bao phủ tới eo và lật ngược lên bàng quang tạo túi cùng bàng quang – tử cung. - Mặt ruột có phúc mạc phủ tới phần trên âm đạo tạo túi cùng Douglas là chổ thấp nhất của ổ phúc mạc -> dịch trong ổ phúc mạc rất dễ đọng tại đây. Đáy tử cung Góc bên có dây chằng tròn và dây chằng riêng buồng trứng.
Cổ tử cung (CTC) - Phần trên âm đạo. - Phần âm đạo: trong như mõm cá mè tạo thành vòm âm đạo, ở đỉnh của mõm có lỗ tử cung, chưa đẻ lỗ tử cung tròn nhỏ, đẻ rồi lỗ tử cung có lằng ngang rộng. Vòm âm đạo có 4 túi: + Túi bịt trước + 2 túi bịt bên + Túi bịt sau: sâu hơn cả và liên quan đến túi cùng trực tràng – tử cung. Tại đây niệu quản nằm ngay trên túi cùng bên của vòm âm đạo.
[3] Nếu niệu quản có sỏi ta có thể sờ được khi thăm khám âm đạo. Ở dưới có các mạch máu tử cung khi các mạch này chạy ngang qua dây chằng rộng. Khi tiến hành phẫu thuật cắt bỏ tử cung, có thể vô tình cắt phải niệu quản trong lúc kẹp các mạch tử cung. Dây chằng 13 - Dây chằng rộng.
- Dây chằng tròn: bám từ góc bên đáy rồi chui vào ống bẹn sâu -> chui ra lỗ bẹn nông rồi tỏa thành nhiều sợi bám và mô liên kết của gò mu và môi lớn âm đạo. - Dây chằng tử cung cùng. - Dây chằng ngang cổ tử cung: bám từ bờ bên cổ tử cung đến ngay sau thành bên chậu hông, đến phía trên hoành chậu hông. Cấu tạo tử cung Gồm 3 lớp - Lớp thanh mạc: ở ngoài cùng.
- Lớp cơ ở giữa + Vùng thân: có 3 tầng cơ. Tầng ngoài: cơ dọc. Tầng giữa: lớp cơ rối là những thớ đang chéo nhau quấn quanh mạch máu, chính nhờ tầng cơ này mà máu được cầm lại khi sanh đẻ. Tầng trong: là các thớ cơ vòng.
[1] + Vùng cổ tử cung: mỏng hơn và không có tầng cơ rối, chỉ có một tầng cơ vòng kẹp giữa 2 tầng cơ dọc. [1] - Lớp niêm mạc: mỏng và dính chặc vào lớp cơ. Mạch máu thần kinh - Động mạch tử cung là nhánh của động mạch chậu trong, đi ở nền dây chằng rộng, bắt chéo phía trước niệu quản, cách cổ tử cung 1,5 cm (chú ý trong phẩu thuật) -> tử cung ở ngang mức lỗ trong tử cung, động mạch chạy theo bờ bên tử cung theo kiểu xoắn ốc cấp máu thân tử cung, nối với động mạch buồn trứng và cho nhánh cấp máu cổ tử cung. [1] [2] [4] - Tĩnh mạch tử cung đi song song động mạch và cuối cùng đổ vào tĩnh mạch chậu trong, các tĩnh mạch nối thông qua đám rối chậu hông và âm đạo.
- Thần kinh tử cung âm đạo tách ra từ đám rối hạ vị dưới -> đi trong dây chằng tử cung cùng tới tử cung ở chỗ eo tử cung. Cấu trúc tử cung [40] 1. Những vấn đề cơ bản về tổn thương ở cổ tử cung Bệnh lý lành tính cổ tử cung là tổn thương viêm, lộ tuyến, vùng tái tạo của lộ tuyến và các khối u lành tính. Nguyên nhân là do nhiễm Gardenella vaginalis, nấm, Trachomonas vaginalis, Chlamydia trachomatis.
Tổn thương viêm – Thường gặp viêm âm đạo và cổ tử cung phối hợp dưới trạng thái cấp tính / bán cấp 15 tính hoặc mạn tính. Lâm sàng phụ thuộc nồng độ pH của môi trường âm đạo và nguyên nhân gây bệnh. – Cổ tử cung đỏ, có khí hư bám trên bề mặt. Nếu viêm ống cổ tử cung có thể thấy chất nhầy ống cổ tử cung đục như mủ.
Viêm cấp tính có đặc điểm là viêm đỏ, chạm vào đau hoặc chảy máu, biểu mô phù nề, xung huyết… Đối viêm mạn tính, biểu hiện là sự xâm nhập vào phía trong lỗ CTC nhưng chủ yếu là biểu mô trụ tràn ra bên ngoài lỗ CTC, phá hủy phía ngoài của CTC do sự hủy hoại của biểu mô không đều [14]. Viêm cổ tử cung [13] 2. Lộn tuyến cổ tử cung: Là tình trạng các tuyến bị lộn ra mặt ngoài CTC, thường gặp ở người đẻ nhiều, sang chấn do thủ thuật, dùng thuốc tránh thai. Khám thấy vùng đỏ quanh lỗ CTC và soi thấy hình chùm nho quanh CTC [14], [28].
Lộ tuyến cổ tử cung: Biểu mô trụ cổ trong lan xuống hoặc lộ ra ở phần cổ ngoài, nơi chỉ có biểu mô lát, chiếm 60% các tổn thương tại CTC. Chia thành lộ tuyến bẩm sinh (từ sơ sinh do cường estrogen); lộ tuyến mắc phải (do viêm nhiễm, sang chấn, thai nghén tăng 16 estrogen). Lâm sàng: ra khí hư nhầy, đặc, quánh bám vào vùng tổn thương CTC, vệ sinh có thể gây chảy máu, nhìn bằng mắt thường thấy mất lớp biểu mô vảy nhiều nụ nhỏ, không đều nhau, màu đỏ sậm. Soi CTC sau khi bôi acid acetic 3% thấy các tuyến như "chùm nho" và không bắt màu lugol.
Sinh thiết: mất lớp biểu mô lát, chủ yếu tế bào trụ tiết nhầy. nếu viêm nhiễm có nhiều bạch cầu đa nhân và lympho bào [14], [28]. Viêm lộ tuyến cổ tử cung [13] 2.