MỞ ĐẦU Từ lâu chăn nuôi heo đã là một nghề quen thuộc đối với người dân An Giang. Trong đó chăn nuôi heo ngày càng chiếm ưu thế và phát triển mạnh. Các trại chăn nuôi và các nông hộ đã cải tiến kỹ thuật chăn nuôi, nhập các giống mới có tỷ lệ nạc cao và chất lượng thịt tốt từ các nước có ngành chăn nuôi tiên tiến… Với những cố gắng đó các nhà chăn nuôi đã nâng được hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên vấn đề dịch bệnh vẫn là nổi lo của người chăn nuôi vì một mặt nó làm giảm khả năng sinh trưởng và phát triển, mặt khác nó làm giảm hiệu quả kinh tế.
Do đó phương thức chăn nuôi và phòng bệnh cho heo cần phải được quan tâm đặt biệt hơn. Phương thức chăn nuôi không hợp lí làm cho heo dễ mắc các bệnh do virus, vi khuẩn… đặc biệt là bệnh ký sinh trùng. Heo mắc bệnh này làm giảm khả năng sinh trưởng, phát triển và mất sức đề kháng. Những năm gần đây kỹ thuật chăn nuôi heo ở tỉnh ta ngày càng phát triển, các hộ chăn nuôi đã áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào công tác phòng và trị bệnh truyền nhiễm cho đàn heo nuôi, còn bệnh giun sán gây ra hầu như chưa được quan tâm đối với người chăn nuôi nhưng nó gây ra nhiều tổn thất… Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành đề tài:” Điều tra tình hình nhiễm giun sán ký sinh ở heo tại tỉnh An Giang”.
Mục đích: - Nắm được tình hình nhiễm giun sán ký sinh ở heo tại địa bàn tỉnh An Giang. - Thành phần loài giun sán ký sinh chủ yếu. - Từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng qui trình phòng trị bệnh giun sán ở heo của tỉnh sau này. 1 Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế đã có một số công trình nghiên cứu về ký sinh trùng họtập trung vào nghiên cứu vào phân loại như: Skrjabin (1925) đã mô tả tỉ mỉ về các đặc điểm của 42 loài giun sán trên thế giới và đã chỉ ra những loài gây tác hại nhiều cần tập trung phòng ngừa.
Drozaka (1930) cho biết có 79 loài giun sán ký sinh ở heo trên thế giới. Sprehm (1957) đã mô tả 74 loài giun sán ký sinh ở heo nhà và heo rừng và cho biết sự phân bố của những loài giun sán này. Dzarezynski (1959) cho biết có 79 loài giun sán ký sinh ở heo. Oslov (1958) cho biết có 73 loài giun sán ký sinh ở heo, quá trình gây bệnh của chúng và phương pháp phòng trị.
Erchov (1963) cho biết có 58 loài giun sán ký sinh ở heo quá trình gây bệnh và phương pháp phòng trị, Mosgovoi (1967) cho biết có 139 loài giun sán ký sinh ở heo nhà và heo rừng trên thế giới. Trong đó Trematoda 29 loài, Cestoda 16 loài, Nematoda 93 loài và Acanthocephala 1 loài. Dinon (1961) thống kê 450 trường hợp người bị gạo heo thì có 21,6 % người có sán trưởng thành. Những nghiên cứu trước đây có các loài được phát hiện như: + Trematoda Lankaster (1857) Looss (1899) phát hiện loài Fasciolopsis buski ký sinh ở ruột non heo nhà, heo rừng được tìm thấy ở Mã Lai, Thái Lan.
Lewis và Meconnal (1876) phát hiện loài Gastrodiscoides hominus ký sinh ở ruột non heo nhà được tìm thấy ở Thái lan, Ấn Độ. + Cestoda Batsch (1786) phát hiện loài Echinococcus granulosus ký sinh ở ruột heo nhà, được tìm thấy khắp nơi trên thế giới. Pallas (1766) phát hiện loài Taenia hydatigena ký sinh ở ruột heo, được tìm thấy khắp nơi trên thế giới. + Nematoda Wedl (1856) phát hiện loài Strongloides papillosus ký sinh ở ruột heo, được tìm thấy khắp nơi trên thế giới.
2 Schrank (1788) phát hiện loài Trichuris suis ký sinh ở ruột già heo nhà, heo rừng, được tìm thấy khắp nơi trên thế giới. Schwartz và Alicata (1930) phát hiện loài Strongyloides ransoni ký sinh ở ruột heo nhà heo rừng được tìm thấy khắp nơi trên thế giới. Goeze (1782) phát hiện loài Ascaris suum ký sinh ở ruột heo, được tìm thấy khắp nơi trên thế giới.2 Tình hình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam việc nghiên cứu giun sán ký sinh ở heo đã được tiến hành từ những năm đầu của thế kỷ 20. Trong đó có một số tác giả như: Trịnh Văn Thịnh, Dương Công Thuận (1959-1960) đã xét nghiệm phân trên 2200 heo cho biết tỷ lệ nhiễm Ascris suum là 5,6% , Trichuris suis 2,3% heo ở 6 tháng tuổi nhiễm giun tròn nặng nhất với tỷ lệ 49-65,9%.
Iacovlev (1963) thí nghiệm ở nông trường Đồng Giao cho biết mỗi một sán lá ruột Fasciolopsis buski làm giảm 56 g thịt trong một tháng. Nguyễn văn Quang (1966) cho biết heo nhiễm Fasciolopsis buski trung bình giảm tăng trọng từ 1-3 kg/tháng. Bùi Lập (1965,1967,1979) đã tiến hành nghiên cứu về giun sán ở miền Bắc Việt Nam qua phương pháp mổ khám của viện sĩ Skrjabin trên 140 heo nhận thấy có 33 loài giun sán trong đó lớp Trematoda 8 loài 6 giống, lớp Cestoda 4 loài 3 giống, lớp Acanthocepphala 1 loài 1 giống, lớp Nematoda 20 loài 6 giống. Phan Địch Lân (1974) cho biết ở nước ta khắp các vùng heo đều bị nhiễm giun đũa, heo nhiễm sán lá ruột từ 20-50,1% với cường độ nhiễm từ 1- 283 sán/cơ thể, có một số trường hợp cơ sở chăn nuôi 100% heo bị nhiễm sán (Trại Cộng Hòa, Nông Trường Thống Nhất).
Nguyễn Đăng Khải, Nguyễn Đăng Nhượng (1975) tiến hành mổ khám 89 heo ở Quảng Nam, Quảng Ngải, Bình Định cho biết có 11 loài giun sán ký sinh ở heo, trong đó Ascarops strongylina 38,2-50%, Ascaris suum 36 – 58%. Trịnh Văn Thịnh (1978) cho biết các loài giun sán và bệnh giun sán ở gia súc gia cầm Việt Nam là trong thời gian theo mẹ heo con bị bệnh Strongyloides papillosus sụt cân ít nhất là 0,24kg trung bình 1kg/con, cao nhất 3,4kg/con so với heo đối chứng không bị nhiễm. 3 Lương Văn Huấn (1995) mổ khám toàn diện theo tuổi, 891 heo tại 12 tỉnh thành cho biết các loài nhiễm chủ yếu là Echinostoma malayanum 10,10%, ấu trùng Taenia hydatigena 31,80%, Ascaris suum 55%, Ascarops dentata 17,50%, A.3 Đặc tính một số loài giun sán ký sinh ở heo 2.1 Giun đũa (Ascaris suum) - Vòng đời phát triển: không cần ký chủ trung gian, giun Ascarissuum ký sinh trực tiếp trên ký chủ nếu heo nuốt phải trứng giun đũa gây bệnh rồi phát triển thành giun trưởng thành. - Ký sinh ở ruột non lợn, màu trắng sữa, hình ống, hai đầu hơi nhọn.
Giun đực dài 12 – 25 cm, đường kính 3mm. Giun cái dài 30 – 35 cm, đường kính 5 – 6 mm. Giun đực nhỏ đuôi cong về mặt bụng, đuôi giun cái thẳng. - Tác hại: Thời kỳ ấu trùng hay trưởng thành đều gây bệnh khi ấu trùng ở ruột chui vào thành ruột, gây tổn thương mở đường cho vi khuẩn vào cơ thể.
Khi ấu trùng giun đũa qua phổi làm cho bệnh suyễn lợn càng nặng hơn và tỷ lệ phát bệnh có thể tăng gấp 10 lần. Theo Underdall (1957) nếu cho heo khỏe nhiễm trứng, sau 5 ngày cho nhiễm virus suyễn thì bệnh tích ở phổi rộng gấp 10 lần so với heo chỉ bị suyễn. Khi ấu trùng theo máu về gan, dừng lại ở mạch máu gây ra lấm tấm xuất huyết, đồng thời gây hủy hoại tế bào gan, ấu trùng từ mạch máu phổi di chuyển tới phế bào nên mạch máu bị vỡ, ở phổi có nhiều điểm xuất huyết. Khi ấu trùng di hành qua phổi gây ra viêm.
Ấu trùng 4 di hành độ 2 – 3 tuần, khi thành giun trưởng thành thì tác dụng gây viêm giảm dần. Khi giun trưởng thành ở ruột non làm niêm mạc bị loét và đau bụng khi quá nhiều làm tắc và thủng ruột. Ngoài ra trong quá trình trao đổi chất giun còn thải cặn bả gây độc làm heo gầy còm chậm lớn.2 Giun tóc (Trichuris suis) - Vòng đời phát triển: Giun cái đẻ trứng trong ruột già của ký chủ, trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi 15 – 28 ngày trứng sẽ phát triển thành trứng gây nhiễm, nhiệt độ càng thấp sự phát triển càng chậm, trứng này theo thức ăn nước uống vào đường tiêu hóa ký chủ, ấu trùng được nở ra rồi chui vào niêm mạc ruột già phát triển thành giun trưởng thành. Thời gian hoàn thành vòng đời trong cơ thể tùy loài giun tóc.
Chu kỳ 45 – 47 ngày Giun sống ở ruột heo 114 ngày. Hình thái giống roi ngựa hoặc sợi tóc màu trắng có thể chia làm 2 phần rõ rệt. Phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản. - Giun đực dài 20 – 52 mm, phần đuôi cuộn tròn lại, chỉ có một gai giao hợp dài 5 – 7 mm.
Giun cái dài 39 – 53 mm đuôi thẳng. − Tác hại: phần đầu của giun tóc cắm sâu vào niêm mạc ruột, gây tổn thương, mở đường cho vi khuẩn gây bệnh vào cơ thể ký chủ. Ngoài ra trong quá trình sống giun tóc thải cặn bã và độc tố làm con vật trúng độc. Giun cái đẻ trứng ở khí quản rồi tới hầu, ruột và theo phân ra ngoài.
Nếu giun nuốt phải trứng và ấu trùng sẽ trở thành ấu trùng gây nhiễm. Nếu heo ăn phải ấu trùng gây nhiễm loại giun đất thì ấu trùng vào cơ thể và trở thành giun trưởng thành, giun trưởng thành hoàn thành vòng đời cần 45 – 50 ngày - Hình thái: giống sợi chỉ màu trắng hoặc vàng nhạt. Gồm 3 loài chính sau: Metastrongylus sp: - Giun đực dài 12 – 26 mm, túi giao hợp nhỏ. - Gai giao hợp dài giống sợi chỉ dài 3,87 – 5,53 mm - Đầu mút của gai có móc nhỏ, không bánh lái - Giun cái dài 20 – 30 mm.
Đuôi cong về phía bụng. Trứng dài 0,04 – 0,054 mm x 0,032 – 0,044 mm, hình bầu dục. Trong trứng có ấu trùng. pudendotectus : - Giun đực dài 16 – 18 mm giun cái 19 – 37 mm 6 - Túi giao hợp lớn - Gai giao hợp ngắn 1,2 – 1,4 mm - Có bánh lái gai giao hợp - Giun cái đuôi thẳng M.salmi: - Giun đực dài 14 – 17 mm gai giao hợp giống nhau, dài 2,20 – 2,37 mm.
Giun cái dài 40 mm, trứng dài 0,040 – 0,050 x 0,032 – 0,040 mm. - Tác hại: Khi ấu trùng di hành phá hoại thành ruột, hạch lâm ba mạch máu và tổ chức phổi mang vi khuẩn vào các tổ chức đó. Ngoài ra, giun tiết độc tố vào máu làm con vật trúng độc, heo con chậm lớn, sức đề kháng giảm sút dễ mắc các bệnh khác, heo con có thể bị chết.4 Sán lá (Fasciolopsis buski) - Ký sinh ở ruột non đôi khi thấy ở ruột già và bao tử.