Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP VÀ ĐIỀU KIỆN VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT 1. Những vấn đề lý luận về giải thể doanh nghiệp 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, chính sách chung của Đảng và Nhà nước là đảm bảo quyền tự do kinh doanh, tạo điều kiện cho mọi chủ thể cùng tham gia phát triển kinh tế của đất nước.
Trong đó, nhóm chủ thể kinh doanh quan trọng nhất là các doanh nghiệp. Vậy, khái niệm doanh nghiệp được hiểu như thế nào? Dưới góc độ kinh tế: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện các hoạt động thương mại nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Nó chỉ mang tính chất như một vỏ bọc hình thức để hợp pháp hoá các giao dịch, chi phí và hoạt động kinh doanh của các thành viên công ty. Người ta xem doanh nghiệp như một cái áo khoác pháp lý để thực hiện ý tưởng kinh doanh [15, tr.250] Dưới góc độ pháp lý: Khái niệm “doanh nghiệp” đã được đề cập trong quá trình xây dựng và phát triển pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam trên cơ sở đảm bảo sự phù hợp với pháp luật quốc tế và điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Tại Điều 4 của Luật Doanh nghiệp 2005 quy định thống nhất về doanh nghiệp: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. 7 Đến Khoản 7, Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014, quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” trên cơ sở kế thừa từ các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 và xác định đó là bản chất pháp lý của doanh nghiệp và điều kiện doanh nghiệp tham gia giao dịch trên thị trường đó là phải được đăng ký thành lập doanh nghiệp. Trong phạm vi đề tài luận văn, tác giả tập trung vào nghiên cứu các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là mô hình công ty. * Đặc điểm của doanh nghiệp: Từ khái niệm doanh nghiệp được ghi nhận tại Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014, có thể thấy doanh nghiệp có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng.
Theo đó, doanh nghiệp trước hết phải là tổ chức kinh tế. Tổ chức kinh tế được thành lập ra bởi một người hoặc trên cơ sở liên kết của hai hay nhiều người, tổ chức trên cơ sở cùng chung mục đích, sự tin tưởng, vốn, …đã liên kết với nhau theo những hình thức nhất định và tạo ra mô hình tổ chức kinh doanh – gọi chung là doanh nghiệp với mục đích kinh doanh, tạo ra lợi nhuận cho những người thành lập. Các doanh nghiệp đều có tên riêng - đây là cơ sở để Nhà nước thực hiện quản lý đối với doanh nghiệp, đồng thời là cơ sở để phân biệt chủ thể trong quan hệ giữa các doanh nghiệp khác nhau với khách hàng. Với việc có tên riêng và là một tổ chức kinh tế độc lập, doanh nghiệp tự nhân danh mình tham gia các giao dịch một cách độc lập.
Thứ hai, doanh nghiệp có tài sản: Doanh nghiệp được thành lập ra với mục đích là kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận và điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp hoạt động đó là có tài sản. Khi thành lập doanh nghiệp, các thành viên phải thực hiện hoạt động góp vốn tức là họ phải bỏ ra một số tài sản để góp vào doanh nghiệp tạo thành tài sản của doanh nghiệp. Một số ngành nghề, lĩnh vực nhất định đòi hỏi doanh 8 nghiệp phải đáp ứng số vốn pháp định nhất định để có thể kinh doanh. Tài sản của doanh nghiệp bao gồm tài sản vô hình hoặc tài sản hữu hình và được hình thành bởi nhiều cách thức khác nhau như: các thành viên sáng lập góp vốn thành lập doanh nghiệp; phát hành chứng khoán huy động vốn trong quá trình hoạt động doanh nghiệp…… Thứ ba, doanh nghiệp có trụ sở giao dịch ổn định.
Trụ sở chính của doanh nghiệp là địa chỉ tiến hành các hoạt động kinh doanh với các bên có liên quan. Trụ sở chính của doanh nghiệp phải được xác định cụ thể, gồm: số nhà, tên phố/đường, (ngõ phố) hoặc tên xã, phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và địa chỉ này phải ở trên lãnh thổ Việt Nam. Ngoài ra, trụ sở doanh nghiệp còn là địa điểm giúp xác định mối quan hệ giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý Nhà nước. Cơ quan quản lý sẽ thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát các hoạt động của doanh nghiệp tại trụ sở để biết được thực tế hoạt động của doanh nghiệp.
Thứ tư, doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật. Đăng ký thành lập doanh nghiệp là việc doanh nghiệp tiến hành các thủ tục theo luật định nhằm khai sinh về mặt pháp lý cho doanh nghiệp. Xét từ phía cơ quan Nhà nước, nó thể hiện sự thừa nhận tư cách pháp lý của doanh nghiệp. Với tư cách là một chủ thể trong nền kinh tế, doanh nghiệp được Nhà nước thừa nhận và trao cho các quyền và nghĩa vụ nhất định cũng như sẽ được bảo đảm về mặt pháp lý kể từ khi hoàn tất thủ tục đăng ký kinh doanh.
Thứ năm, trách nhiệm tài sản của doanh nghiệp: Khi tham gia vào các quan hệ kinh tế, mỗi doanh nghiệp đều phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với các chủ thể khác, đặc biệt là trách nhiệm về tài chính và thanh toán các khoản nợ. Hiện nay, trách nhiệm tài sản của doanh nghiệp bao gồm: trách nhiệm hữu hạn và trách nhiệm vô hạn. Tùy từng doanh nghiệp với quy chế pháp lý khác nhau mà họ phải chịu trách nhiệm về tài sản khác nhau. Đây 9 cũng chính là nội dung khi thành thành lập doanh nghiệp chúng ta cần đánh giá để chỉ ra những ưu điểm cũng như hạn chế của từng loại trách nhiệm để xem xét lựa chọn loại hình phù hợp nhất.
Ví dụ: Công ty cổ phần chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của công ty đối với các nghĩa vụ tài chính và khoản nợ (trách nhiệm hữu hạn); các thành viên của công ty, người đại diện theo pháp luật của công ty không phải chịu trách nhiệm bằng tài sản cá nhân của mình, mà phải chịu trách nhiệm hữu hạn tương ứng với phần vốn góp của mình; hay đối với doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ tài chính, khoản nợ của doanh nghiệp không chỉ bằng tài sản của doanh nghiệp mà còn bằng tài sản của cá nhân chủ doanh nghiệp tư nhân cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ. Thứ sáu, mục đích của doanh nghiệp: Doanh nghiệp được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh với mục đích lợi nhuận. Đây là cơ sở để phân biệt pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại. Tuy nhiên, lợi nhuận của doanh nghiệp đạt được bao nhiêu còn phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngoài ra, trong quá trình hoạt động doanh nghiệp cũng có thể thực hiện nhiều hoạt động khác không nhằm mục đích kinh doanh như hoạt động xã hội từ thiện. Tuy nhiên các hoạt động này không phải là mục tiêu, mục đích của doanh nghiệp mà được doanh nghiệp tiến hành để phục vụ cho hoạt động kinh doanh thu được lợi nhuận cao hơn. Khái niệm, đặc điểm giải thể doanh nghiệp * Khái niệm của giải thể doanh nghiệp Trong một vòng đời của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh thì thường được chia làm bảy giai đoạn, bao gồm [20]: Giai đoạn “gieo hạt”, khởi động, phát triển, ổn định, mở rộng, suy thoái và cuối cùng là tan rã. Trong đó, “tan rã” là giai đoạn mà chủ thể doanh nghiệp phải chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp, rút lui ra khỏi thị trường.
Trong khoa học pháp lý, 10 việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp thông thường được thực hiện dưới nhiều cách thức khác nhau và phổ biến hiện nay là giải thể doanh nghiệp. Dưới góc độ ngôn ngữ: Trong tiếng anh, khái niệm giải thể được sử dụng bởi nhiều thuật ngữ như: “disband” hay “break up” nhưng thông dụng nhất và được sử dụng rộng rãi nhất để chỉ sự chấm dứt tồn tại của một doanh nghiệp, tổ chức trong các văn bản pháp lý là thuật ngữ “dissolution”. Theo từ điển tiếng Việt, “giải thể có nghĩa là không còn hoặc làm cho không còn đủ điều kiện tồn tại như một tổ chức nữa, các thành viên phân tán đi” [25]. Theo đó, khi doanh nghiệp không còn hoặc bị làm cho không còn đủ điều kiện tồn tại, các thành viên trong doanh nghiệp phân tán đi, không còn liên kết với nhau nữa thì doanh nghiệp đó sẽ giải thể.
Hay nói cách khác giải thể doanh nghiệp là một cách “khai tử” cho doanh nghiệp. Dưới góc độ pháp lý: Theo từ điển Luật học, giải thể doanh nghiệp là “thủ tục chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp, với tư cách là một chủ thể kinh doanh bằng cách thanh lý tài sản của doanh nghiệp để trả cho các chủ nợ”[26]. Giáo trình Luật Doanh nghiệp – Trường Đại học Luật Hà Nội: “Giải thể doanh nghiệp là quá trình chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp trong điều kiện doanh nghiệp có khả năng thanh toán hoặc bảo đảm thanh toán các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp” [22, tr.419]; Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam của Viện Đại học Mở Hà Nội: “Giải thể doanh nghiệp là một trong những thủ tục pháp luật dẫn đến chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp”[24] Qua đây, có thể thấy về cơ bản dưới góc độ pháp lý khái niệm giải thể doanh nghiệp được hiểu khá tương đồng nhau. Theo đó, giải thể doanh nghiệp là việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp.
Đây không phải là một sự kiện pháp lý mà là một quá trình theo quy định của pháp luật. Trong đó, pháp luật quy định cụ thể các trường hợp giải thể, điều kiện giải thể doanh nghiệp khi 11 doanh nghiệp bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác cũng như các nghĩa vụ hợp đồng khác với các bên có liên quan; đồng thời không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc cơ quan trọng tài; thủ tục giải thế.