Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về điều hòa lợi ích giữa chủ nợ và con nợ thông qua thủ tục phá sản. Chương 2: Thực trạng điều hòa lợi ích giữa chủ nợ và con nợ thông qua thủ tục phá sản ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều hòa lợi ích giữa chủ nợ và con nợ thông qua thủ tục phá sản. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU HÒA LỢI ÍCH GIỮA CHỦ NỢ VÀ CON NỢ THÔNG QUA THỦ TỤC PHÁ SẢN 1.
Phá sản và các chức năng của pháp luật phá sản hiện đại 1. Khái niệm phá sản Phá sản là hiện tượng kinh tế - xã hội phát sinh từ rất sớm trong lịch sử loài người. Về mặt học thuật, phá sản là một thuật ngữ gây khá nhiều tranh luận về xuất xứ của nó. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, thuật ngữ phá sản bắt nguồn từ chữ "Ruin" trong tiếng Latin có nghĩa là sự "khánh tận".
Thuật ngữ này được dùng đề chỉ tình trạng mất cân đối giữa thu và chi của một chủ doanh nghiệp mà biểu hiện trực tiếp của sự mất cân đối đó là tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn. Một số nhà nghiên cứu khác cho rằng, thuật ngữ phá sản bắt nguồn từ chữ "Banca Rotta" của La Mã với ý nghĩa là "chiếc ghế bị gãy". Điều này có cơ sở là một tập quán thương mại, người nào mất khả năng thanh toán nợ thì cũng mất luôn quyền tham gia các đại hội thương gia và do đó chiếc ghế ngồi của người đó bị đem ra khỏi hội trường. Từ đó, "chiếc ghế bị gãy" trở thành hình ảnh tượng trưng cho sự vỡ nợ hay mất khả năng thanh toán nợ của một thương nhân.
Và vì vậy, hiện nay thuật ngữ phá sản được gọi trong tiếng Anh là Bankrupcy và trong tiếng pháp là Banqueroute. Cùng với hướng giải thích như trên, các luật gia Mỹ khi tiếp cận về thuật ngữ phá sản lại cho rằng phá sản bắt nguồn từ chữ Latin "Banque" có nghĩa là cái bàn hoặc ghế dài và từ "Ruptus" có nghĩa là bị gãy. Và hình tượng này được sử dụng để chỉ sự thất thế của một thương gia trên thương trường khi mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Như vậy, thuật ngữ phá sản dù được lý giải rất khác nhau về xuất xứ, song khái niệm này đều được sử dụng để chỉ sự đổ vỡ trong hoạt động kinh doanh của một thương nhân hay của một doanh nghiệp.
Trong tiếng Việt, theo tinh thần của Luật Thương mại năm 1972 của chính quyền Sài Gòn trước đây, thuật ngữ khánh tận dùng để chỉ phá sản thương gia còn vỡ nợ được dùng để chỉ sự phá sản của cá nhân, ngoài ra, phá sản còn được nhìn nhận là một thủ tục tư pháp thanh toán tài sản. Hiện nay, trên cơ sở Luật Phá sản doanh nghiệp 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năm 1993 và Luật Phá sản năm 2004, Khái niệm phá sản được xem xét dưới hai bình diện: thứ nhất là doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và thứ hai là phá sản là thủ tục phục hổi hoặc xử lí nợ đặc biệt. Lịch sử phá sản của thế giới đã ghi nhận Italia là nước khai sinh ra đạo luật phá sản đầu tiên của thời kỳ La Mã. Đến thời kỳ Trung cổ, các quốc gia châu Âu cũng ban hành luật phá sản.
Lúc đầu luật này được áp dụng vào lĩnh vực thương nghiệp, sau đó mở rộng ra nhiều lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiện tượng phá sản trở nên phổ biến trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa, nó là một trong những nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển kinh tế, hình thành nên những tập đoàn kinh tế tư bản độc quyền. Phá sản là hiện tượng bình thường trong nền kinh tế. Nhưng nó mới chỉ xuất hiện và phổ biến ở nước ta từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp trước đây, phá sản và pháp luật về phá sản không tồn tại. Bởi lẽ, đặc trưng của nền kinh tế này là thừa nhận nguyên tắc nhà nước lãnh đạo nền kinh tế (nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 22 và Điều 23 Hiến pháp Việt Nam năm 1980); ghi nhận sự thống lĩnh của chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa dưới hai hình thức là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể (Điều 18, Điều 23, Điều 26 Hiến pháp Việt Nam 1980); phủ nhận quyền tự do kinh doanh thông qua việc khẳng định sự độc quyền ngoại thương nhà nước (Điều 21 Hiến pháp năm 1980) và cấm đoán các hình thức sản xuất, kinh doanh phi xã hội chủ nghĩa (Điều 24, Điều 25 Hiến pháp năm 1980). Như vậy, trong nền kinh tế này không có sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, không có tự do kinh doanh, tức là không có đầy đủ các tiền đề kinh tế - pháp lý để tạo ra được sự cạnh tranh thực sự trên thương trường. Trong hoàn cảnh như vậy, không thể có phá sản và do đó, không thể có pháp luật về phá sản.
Tại Việt Nam sau đổi mới kinh tế, các doanh nghiệp được quyền tự chủ kinh doanh kèm theo đó là hiện tượng phá sản cũng xuất hiện. Kinh tế càng phát triển, cạnh tranh càng gay gắt thì phá sản càng có xu hướng gia tăng, đòi hỏi phải có sự điều chỉnh của pháp luật. Luật phá sản doanh nghiệp 1993 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30 tháng 12 năm 1993 là văn bản đầu tiên có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh vấn đề về phá sản. Nhưng sau hơn 10 năm thực hiện đã bộc lộ nhiều điểm lạc hậu cần thay đổi, để phù hợp hơn với sự phát triển của nền kinh tế, của xã hội.
Vì vậy, ngày 15/6/2004, Quốc hội đã thông qua Luật phá sản 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2004 thay thế Luật phá sản doanh nghiệp 1993, có hiệu lực từ ngày 15/10/2004. Theo Điều 3 Luật phá sản 2004 thì "doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản" [45]. Như vậy, có thể định nghĩa phá sản như sau: Phá sản là thủ tục giải quyết thanh toán nợ được Tòa án thực hiện theo một trình tự, thủ tục luật định (thủ tục phá sản) do doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ yêu cầu. Phân loại phá sản Phân loại phá sản có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xem xét và xử lý các quan hệ phát sinh trong khi giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
Việc phân loại phá sản nhằm xác lập cơ chế giải quyết phù hợp với tính chất của từng loại phá sản. Dựa vào những căn cứ khác nhau, người ta phân chia phá sản thành nhiều loại khác nhau nhưng thường được chia thành ba dạng chủ yếu thường gặp là: phá sản trung thực và phá sản gian trá, phá sản tự nguyện và phá sản bắt buộc, phá sản doanh nghiệp và phá sản cá nhân. Phá sản trung thực và phá sản gian trá Căn cứ vào tính xác thực của việc phá sản ta có thể chia phá sản thành phá sản trung thực và phá sản gian trá. Phá sản trung thực là trường hợp phá sản đúng theo quy định của Luật phá sản, là hậu quả của việc mất khả năng thanh toán do những nguyên nhân khách quan hay những rủi ro trong kinh doanh gây ra.
Doanh nghiệp có thể bị phá sản theo nhiều nguyên nhân khác nhau như: bị ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, sự thay đổi chính sách pháp luật của nhà nước, sự chuyển đổi xu hướng người tiêu dùng, sự biến động giá cả trên thị trường, thiên tai, dịch bệnh.; hoặc có thể do yếu tố nội tại của bản thân doanh nghiệp như tình trạng quản lý kém, chọn hướng đầu tư kinh doanh không phù hợp, bị mất uy tín trên thương trường., nhưng những nguyên nhân này đều nằm ngoài ý muốn của con nợ. Ngược lại, phá sản gian trá lại hoàn toàn do chủ ý của con nợ, là hiện tượng phá sản do con nợ có những thủ đoạn gian trá, có sắp đặt trước, cố tình tạo nên tình trạng mất khả năng thanh toán nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Đối với phá sản trung thực, pháp luật chủ yếu nhằm vào giải quyết vấn đề xử lý tài sản hoặc phục 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hồi doanh nghiệp (nếu có thể phục hồi); đối với phá sản gian trá, ngoài những vấn đề này, pháp luật còn phải truy cứu trách nhiệm đối với những cá nhân có vi phạm pháp luật. Khoản 3 Điều 8 Luật phá sản 2004 quy định "trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Thẩm phán cung cấp tài liệu (bản sao) cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để xem xét việc khởi tố về hình sự và vẫn tiến hành thủ tục phá sản theo quy định của Luật này" [45].
Phá sản tự nguyện và phá sản bắt buộc Căn cứ vào cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật phá sản, cụ thể là căn cứ vào chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, phá sản được chia thành phá sản tự nguyện và phá sản bắt buộc. Phá sản tự nguyện là phá sản do chính con nợ yêu cầu khi thấy mình lâm vào tình trạng phá sản. Ngược lại, phá sản bắt buộc là trường hợp phá sản được thực hiện theo yêu cầu của các chủ thể không phải là doanh nghiệp mắc nợ (chủ nợ, người lao động. Việc phân loại phá sản tự nguyện và bắt buộc rất có ý nghĩa trong việc xây dựng luật thủ tục áp dụng cho việc giải quyết các vụ việc phá sản, đặc biệt là trong xác định nghĩa vụ chứng minh của người nộp đơn.
Phá sản doanh nghiệp và phá sản cá nhân Căn cứ vào đối tượng áp dụng của Luật phá sản, người ta phân chia phá sản thành: phá sản doanh nghiệp và phá sản cá nhân. Thực tế cho thấy, việc ban hành Luật phá sản ở đa số các nước xuất phát trực tiếp từ nhu cầu giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán cùng với những hậu quả của nó trong hoạt động kinh doanh của các thương nhân, vì vậy đa số các nước chỉ áp dụng pháp luật phá sản với các thương nhân để giải quyết các khoản nợ phát sinh trong kinh doanh.