Chương 1: Những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã. Chương 2: Thực trạng pháp luật địa vị pháp lý hành chính và áp dụng pháp luật địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã từ thực tiễn tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH CỦA CÔNG CHỨC TƢ PHÁP – HỘ TỊCH CẤP XÃ 1.
Khái quát về chính quyền cấp xã và công chức cấp xã 1. Khái quát chính quyền cấp xã 1. Quan niệm về chính quyền địa phương Khái niệm về thuật ngữ “chính quyền địa phương” hiện tại vẫn chưa có văn bản nào ban hành có quy định cụ thể. Chính quyền địa phương được hiểu là một tổ chức bộ máy nhà nước có tư cách pháp nhân được Hiến pháp và pháp luật công nhận sự tồn tại vì mục đích quản lý một khu vực nằm trong một quốc gia.
Tuy nhiên, khái niệm “chính quyền địa phương” chỉ mới được sử dụng chính thức từ khi có Hiến pháp năm 2013 và đặc biệt là được quy định cụ thể trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (thay thế Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003). Chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND ở các đơn vị hành chính, có nhiệm vụ bảo đảm thi hành Hiến pháp, pháp luật, quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cấp trên; trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa Trung ương và địa phương. Hiến pháp năm 2013 đã sửa đổi tên gọi của Chương IX từ “HĐND và UBND” thành “Chính quyền địa phương”. Do từ trước đến nay thuật ngữ “chính quyền địa phương” được sử dụng tương đối rộng rãi và phổ biến trong các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước, các sách báo chính trị pháp lý, cũng như trong các bài phát biểu của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở trung ương và địa phương.
Khái niệm được sử dụng nhiều trong tổ chức và hoạt động của nhà nước vào đời sống thực tế xã hội, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào đưa ra khái niệm chính quyền địa phương. Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 mới được ban hành gần đây cũng 8 không có khái niệm về chính quyền địa phương. Xuất phát từ góc độ nghiên cứu lý luận, từ góc độ thực tiễn hay cách thức tiếp cận vấn đề nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà thực tiễn và quản lý tập trung vào 3 quan niệm như sau: - Chính quyền địa phương là khái niệm dùng chung để chỉ tất cả các cơ quan nhà nước (mang quyền lực nhà nước) đóng trên địa bàn địa phương. - Cấp Chính quyền địa phương gồm hai phân hệ cơ quan – cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (HĐND) và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (UBND) và được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do luật định [33, Điều 111.
- Chính quyền địa phương bao gồm 4 phân hệ cơ quan tương ứng với 4 phân hệ cơ quan nhà nước tối cao ở trung ương (Quốc hội, Chính phủ, Toà án Nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao) là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (Hội đồng nhân dân các cấp), cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (Uỷ ban nhân dân các cấp), cơ quan tư pháp (Toà án nhân dân các cấp) và cơ quan kiểm sát (Viện kiểm sát nhân dân các cấp) [43]. - Cấp chính quyền địa phương theo cấp hành chính lãnh thổ (tỉnh, huyện, xã). Cơ cấu chính quyền địa phương dù ở cấp tỉnh, huyện, hay xã được hiểu thống nhất như Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, gồm: HĐND và UBND. Hai cơ quan này được tổ chức ở cả ba cấp chính quyền địa phương.
Chính quyền cấp xã Cấp xã theo quy định tại Hiến pháp năm 2013 là đơn vị hành chính thấp nhất trong hệ thống hành chính 4 cấp ở nước ta, là cấp cơ sở gần dân nhất. Cấp xã là tổ chức hành chính của một cộng đồng dân cư, được chia theo địa giới do pháp luật quy định, có bộ máy hành chính, có chức năng, nhiệm vụ và có đội ngũ cán bộ, công chức riêng. Ở Việt Nam, cấp xã là loại hình đơn vị hành chính lâu đời, cấp hành chính chủ yếu ở nông thôn, ngoại thành, ngoại thị và chiếm đa số trong các loại hình đơn vị hành chính cơ sở. Tính đến ngày 12 tháng 4 năm 9 2018, Việt Nam có 11.162 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 1.594 phường, 606 thị trấn và 8962 xã, trong đó có 336 xã thuộc các thành phố trực thuộc tỉnh, 299 xã thuộc các thị xã và 8336 xã thuộc các huyện.
Ở ngoại thị thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã thì gọi là xã, ở nội thị thì gọi là phường; ở các quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương thì gọi là phường; ở các huyện thì gọi là xã hoặc thị trấn [43]. Theo Điều 30, Điều 58, Điều 65 Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 thì: Chính quyền địa phương ở xã, phường, thị trấn – gọi chung là cấp xã là cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND xã (phường, thị trấn) và UBND xã (phường, thị trấn). Vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã: Chính quyền cấp xã được phân loại thành 3 loại hình cơ sở: xã, phường, thị trấn. Ba loại hình cơ sở này có những điểm chung, song cũng có nhiều nét đặt trưng riêng.
Chính quyền cấp xã có vị trí, vai trò rất quan trọng trong hệ thống hành chính ở nước ta. Cụ thể: - Là cấp hành chính gần dân nhất cho nên chính quyền cấp xã chịu trách nhiệm trước nhân dân về mọi hoạt động ở địa phương. Là một cấp hành chính trong hệ thống chính quyền 4 cấp, chính quyền cấp xã được sử dụng con dấu có hình quốc huy, biểu trưng cho quyền lực Nhà nước, là một cơ quan thẩm quyền rộng trong việc quản lý mọi mặt của đời sống xã hội trên địa bàn. Chính quyền cấp xã có ngân sách riêng, thay mặt Nhà nước giao dịch với nhân dân địa phương, thực hiện và đảm bảo thực hiện các chính sách, quy định pháp luật của nhà nước ở địa phương, chăm lo cho mọi mặt đời sống của nhân dân, duy trì an ninh trật tự địa phương.
- Chính quyền cấp xã chịu trách nhiệm trước chính quyền cấp trên về việc quản lý, quan tâm tới mọi mặt đời sống nhân dân ở địa phương: UBND không chỉ là cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp mà UBND cấp dưới còn phải 10 chịu sự chỉ đạo của UBND cấp trên. Như vậy, UBND cấp xã phải chịu trách nhiệm trước UBND cấp huyện. Chính quyền cấp xã là chính quyền được tổ chức ra nhằm bảo đảm, bảo vệ và phục vụ quyền, lợi ích của nhân dân, nhân dân là đối tượng cơ bản để chính quyền địa phương phục vụ. Do đó chính quyền cấp xã là chính quyền cơ sở phải chịu trách nhiệm trước chính quyền cấp trên về việc quan tâm mọi mặt đời sống của nhân dân địa phương.
- Chính quyền cấp xã là cầu nối giữa nhân dân với chính quyền cấp huyện, tỉnh và trung ương. Chính quyền cấp xã là đại diện của nhân dân địa phương tự quyết định những vấn đề nội bộ địa phương, đồng thời chính quyền cấp xã thay mặt nhân dân đề xuất, kiến nghị với cơ quan Nhà nước cấp trên về những vấn đề liên quan đến địa phương thuộc thẩm quyền quyết định của cơ quan Nhà nước cấp trên; nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân địa phương với chính quyền cấp trên. - Cấp xã là nơi trực tiếp diễn ra các hoạt động thực tiễn phong phú và sinh động, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và chính quyền cấp trên. Chính quyền cấp xã và cán bộ công chức cấp xã thông thường là người địa phương hoặc sống ở địa phương, sâu sát với dân, am hiểu những phong tục, tập quán, truyền thống của địa phương nên cán bộ, công chức ở cấp xã phải giải quyết các đầu việc đa dạng, phức tạp của dân.
Mặc khác, cán bộ ở cấp xã phải lắng nghe, giải quyết mọi yêu cầu, thắc mắc, bức xúc của dân và trở thành cấp phản ánh một cách trung thực nhất những nguyện vọng, mong muốn, nhu cầu của người dân tới cơ quan cấp trên và đề xuất những giải pháp giải quyết những vướng mắc, thỏa mãn những nhu cầu, mong muốn của nhân dân nói chung và của người dân nói riêng. Do đó, chính quyền cấp xã làm việc có hiệu quả sẽ là nhân tố thúc đẩy, nâng cao chất lượng cuộc sống, trở thành hoạt động thực tế của nhân dân, tạo dựng lòng tin ngày một gia tăng của người dân vào Đảng và Nhà nước. Ngược lại, nếu chính 11 quyền cấp xã không giải quyết một cách thấu đáo những vướng mắc của nhân dân, cán bộ công chức cấp xã làm việc không hiệu quả có thể gây nên những phản ứng tiêu cực của nhân dân đối với chính quyền nhà nước, với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Tóm lại, chính quyền cấp xã – là bộ máy Nhà nước thu nhỏ để giải quyết công việc trên mọi phương diện, do vậy ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của Đảng và Nhà nước đối với nhân dân.
Nhân dân đánh giá uy tín của Đảng và Nhà nước thông qua các công việc cụ thể hàng ngày của chính quyền cấp xã, chất lượng các dịch vụ của chính quyền, nhu cầu dân sinh, dân chủ trong nhân dân, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Vì vậy, với vị trí vừa là cơ quan Nhà nước trực tiếp quản lý các lĩnh vực đời sống xã hội của nhân dân địa phương, vừa là cơ quan đại diện cho tiếng nói của dân, chính quyền cấp xã có một vai trò vô cùng thiết yếu trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước ta. Cơ cấu tổ chức của chính quyền cấp xã: Xã là đơn vị hành chính cấp cơ sở nhỏ nhất ở Việt Nam, cùng với phường và thị trấn. Chính quyền cấp xã gồm có: HĐND xã, phường, thị trấn (gọi chung là HĐND xã) và UBND xã, phường, thị trấn (gọi chung là UBND xã).