Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THƯ KÝ TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái quát chung về Thư ký Tòa án 1. Khái niệm Thư ký Tòa án Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông: "Thư ký là người giúp việc biên chép, viết lách, nói chung là làm các công việc giấy tờ, văn bản quan trọng" [25, tr. 892]; còn theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ năm 2007 thì “Thư ký là người giữ việc giấy tờ, sổ sách trong một cơ quan; người có quyền thay mặt ban phụ trách một cơ quan, giải quyết công việc thường ngày” [26, tr.
Như vậy, từ cách giải thích trên thì thuật ngữ "Thư ký" được hiểu theo nghĩa rộng, nó đề cập đến công việc của người thư ký nói chung. Trên thực tế, ở những lĩnh vực, những ngành nghề khác nhau, vị trí khác nhau người thư ký có những nhiệm vụ, vai trò khác nhau, ví dụ: thư ký văn phòng, thư ký công đoàn, thư ký ghi biên bản cuộc họp, Thư ký tòa án v.v… Mỗi quốc gia khác nhau có thể chế chính trị khác nhau, có cách thức tổ chức quyền lực Nhà nước khác nhau. Trong đó, quyền Tư pháp là một nhánh quyền lực độc lập bao gồm một tổng thể các hoạt động Tòa án và các thiết chế bổ trợ khác, được lập ra để giải quyết các tranh chấp xã hội giữa Nhà nước với công dân, giữa các công dân, các pháp nhân; giám sát tuân thủ Hiến pháp; bảo vệ quyền công dân trong quan hệ với các cơ quan hành pháp; kiểm sát hoạt động điều tra tội phạm; xác lập các sự kiện pháp lý có ý nghĩa lớn. Trong Nhà nước pháp quyền, nhánh quyền lực Tư pháp có vị trí hết sức quan trọng.
Đối với Bộ máy Nhà nước ta được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), trong đó có sự phân công rành mạch giữa ba hệ thống cơ quan: Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp; hoạt động Tư pháp bao gồm hoạt động của các cơ quan: Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và Thi hành án. Trong đó, Tòa án nhân dân (TAND) là một trong những cơ quan Tư pháp có vị trí trung tâm với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền 5 con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Xét về mặt tổ chức nhân sự hệ thống cơ quan Tư pháp gồm có các chức danh: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký Tòa án v.v… Theo quy định của pháp luật tố tụng nói chung, tố tụng hình sự (TTHS) nói riêng, cùng với Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm tra viên thì Thư ký Tòa án cũng được quy định là một chủ thể - người tiến hành tố tụng (THTT) - thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn luật định để tham gia vào quá trình giải quyết vụ án cụ thể. So với các chức danh khác, Thư ký Tòa án (TKTA) cũng giữ vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án nói riêng và hoạt động Tư pháp nói chung.
Tuy nhiên, để tìm hiểu thế nào là TKTA, chúng ta không tìm được định nghĩa luật định mà phải tìm hiểu thông qua các quy định pháp luật về chức danh này và tiếp cận một số khái niệm TKTA trong khoa học pháp lý. Thuật ngữ "Thư ký Tòa án" bắt nguồn từ tiếng Latinh "Graphium" có nghĩa là ghi chép lại vụ việc diễn biến phiên tòa. Ở các nước khác nhau, khái niệm Thư ký Tòa án có sự khác nhau. Ở nước ta hiện nay, thuật ngữ này được hiểu như sau.
Theo quy định của Luật tổ chức TAND năm 2014 thì nhân sự của cơ quan Tòa án gồm có Chánh án, các Phó chánh án, Thẩm phán và Thư ký Tòa án. Các Tòa Phúc thẩm, các Tòa chuyên trách có Chánh tòa, các Phó chánh tòa, Thẩm phán và Thư ký Tòa án (các Điều 3, 20, 21, 22, 30, 38, 45 và 51 Luật tổ chức TAND). Như vậy, ta có thể xác định TKTA là cán bộ Tòa án, Tòa án là một trong những cơ quan Nhà nước. Đồng thời, theo Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (Điều 1) trước đây và nay là Luật cán bộ công chức năm 2008 khoản 2, Điều 4 quy định "công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện." Mặc dù cho đến nay, định nghĩa "Thư ký 6 Tòa án" chưa được cụ thể hóa bằng quy định trong luật nhưng đối chiếu với các quy định trên, chúng ta có thể hiểu TKTA là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan Tòa án, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; là một chức danh pháp lý, một loại cán bộ, công chức không thể thiếu trong tổ chức và hoạt động của cơ quan Tòa án.
Trong khoa học pháp lý hiện nay có nhiều định nghĩa về TKTA, ở mỗi góc độ tiếp cận khác nhau thì mỗi tác giả đưa ra những khái niệm khác nhau. Trong đó, tác giả Nguyễn Đức Mai nêu khái niệm TKTA như sau "TKTA là một chức danh tư pháp, là công chức nhà nước, được tuyển dụng và bổ nhiệm theo quy định của pháp luật vào làm việc ở ngạch Thư ký Tòa án của TAND các cấp" [12, tr. Với nội dung ngắn gọn nhưng đầy đủ, dễ hiểu, khái niệm đã cung cấp cho người đọc những thông tin cơ bản về TKTA như: vị trí TKTA, điều kiện trở thành TKTA và công việc của TKTA. Ngoài ra, theo giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì “TKTA là cán bộ của Tòa án được phân công làm nhiệm vụ ghi biên bản phiên tòa và những việc khác theo quy định của pháp luật.
Thư ký Tòa án bao gồm những người được xếp ngạch công chức thư ký Tòa án, chuyên viên pháp lý, thẩm tra viên” [18, tr. Nội dung khái niệm này có hai phần, thứ nhất xác định vị trí của TKTA, thứ hai đề cập nhiệm vụ của TKTA trong hoạt động tố tụng, trong đó nhiệm vụ chính, trọng tâm là ghi biên bản phiên tòa, bên cạnh đó còn có một số công việc cần thiết khác theo quy định của pháp luật. Qua hai khái niệm trên chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy chúng không hề mâu thuẫn nhau mà bổ sung cho nhau, giúp cho người đọc hiểu thấu đáo hơn về TKTA. So sánh cách định nghĩa của các nhà lập pháp về các chức danh tư pháp: Thẩm phán, Hội thẩm, Điều tra viên, Kiểm sát viên, ta thấy có điểm tương tự: đối với mỗi chức danh, nhà lập pháp xác định rõ họ phải được tuyển chọn theo quy định của pháp luật, thông qua bổ nhiệm hoặc được bầu, cử; đồng thời xác định nhiệm vụ chủ yếu đặc trưng cho từng chức danh.
Ví dụ: Khoản 1 Điều 65 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định "Thẩm phán là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Luật này được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử"; 7 Khoản 1 Điều 45 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự quy định: "Điều tra viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự"; Điều 74 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014: "Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Tương tự các quy định trên tại khoản 1 Điều 92 Luật tổ chức TAND quy định: “1. Thư ký Tòa án là người có trình độ cử nhân luật trở lên được Tòa án tuyển dụng, được đào tạo nghiệp vụ Thư ký Tòa án và bổ nhiệm vào ngạch Thư ký Tòa án”. Trong các văn bản trước đây, định nghĩa Thư ký Tòa án còn được nhắc đến tại Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTHS 2003, Nghị quyết đã cụ thể hóa chức danh TKTA như sau: "Thư ký Tòa án được quy định tại Điều 41 BLTTHS 2003 là người tiến hành TTHS bao gồm những người được xếp ngạch công chức Thư ký Tòa án, và những người được xếp ngạch công chức Chuyên viên pháp lý, Thẩm tra viên được Chánh án Tòa án phân công THTT đối với vụ án hình sự và thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn theo quy định tại Điều 41 của BLTTHS".
Nhìn chung, đây chỉ là sự giải thích quy định của pháp luật về chức danh TKTA trong lĩnh vực TTHS, không phải là định nghĩa luật về chức danh này. Trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ đề cập người được xếp ngạch Thư ký Tòa án trong TTHS. Khái niệm địa vị pháp lý của Thư ký trong tố tụng hình sự Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì “địa vị” là: “Vị trí cá nhân trong quan hệ xã hội, do chức vụ, cấp bậc, quyền lực mà có, về mặt được coi trọng nhiều hay ít” [25, tr. Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý trực thuộc Bộ Tư pháp định nghĩa địa vị pháp lý là: Vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật.
Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình. Thông qua địa vị pháp lý, có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể 8 pháp luật khác, đồng thời cũng có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật. Như vậy, “địa vị pháp lý” luôn gắn với chủ thể quan hệ pháp luật. Khi đề cập đến “địa vị pháp lý” là nói về quyền và nghĩa vụ của một chủ thể quan hệ pháp luật cụ thể, không có địa vị pháp lý chung chung.