Chương 1: Cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của người bị hại trong tố tụng hình sự. Chương 2: Các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của người bị hại trong tố tụng hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội. Chương 3: Một số giải pháp bảo đảm thực hiện có hiệu quả các quy định về địa vị pháp lý của người bị hại trên địa bàn thành phố Hà Nội. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƢỜI BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.
Khái niệm địa vị pháp lý của ngƣời bị hại trong tố tụng hình sự 1. Quan niệm về ngƣời bị hại – Cơ sở để xác định địa vị pháp lý của ngƣời bị hại Để nghiên cứu về điạ vi ̣pháp lý của người bị hại trong tố tụng hình sự, trước hế t cầ n làm rõ khái niê ̣m điạ vi ̣pháp lý. Trong khoa ho ̣c pháp lý , khái niê ̣m “điạ vi ̣” cũng như khái niê ̣m “điạ vi ̣ pháp lý ” thường đươ ̣c nh ắc đến trong giáo trình các môn luâ ̣t , trong các bài viế t v à công trình nghiên cứu nhưng chưa có mô ̣t đinh ̣ nghiã hoàn chỉnh mang tính chính thố ng. Trước hế t , khái niệm “địa vị” được nhắc đến trong Từ điển tiếng Việt, đó là vị trí cá nhân trong quan hệ xã hội, do chức vụ, cấp bậc, quyền lực mà có, về mặt được coi trọng ít hay nhiều…; vị trí trong quan hệ xã hội, kinh tế, chính trị do vai trò, tác dụng mà có còn pháp lý là căn cứ, cơ sở của pháp luật [27].
Địa vị của một cá nhân là vị trí của cá nhân đó trong vai trò xã hội của mình, thể hiện năng lực, trình độ, vai trò của cá nhân đó trong mối quan hệ tương quan với các cá nhân khác trong xã hội. Địa vị này có thể do cá nhân tạo lập nên hoặc do thừa hưởng từ cá nhân khác. Khái niệm “ địa vị” thường được dùng đi kèm bổ ngữ, tạo thành khái niệm mang tiń h tâ ̣p hơ ̣p , ví dụ: “điạ vi ̣xã hô ̣i”, “điạ vi ̣ pháp lý”. Khái niệm “địa vị pháp lý” được giả i thích trong Từ điển luật học, đó là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể khác trên cơ sở các quy định pháp luật; địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình.
Thông qua địa vị pháp lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể pháp luật khác , đồng thời, cũng có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật [7]. Như vâ ̣y “địa vị pháp lý” khác với “địa vị xã hội” ở chỗ nó được pháp luật quy định và nó biểu hiện ở các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể. Cách giải thích này của Từ điển Luâ ̣t ho ̣c đươ ̣c đa số luâ ̣t gia, các nhà nghiên cứu chấp nhận. Địa vị pháp lý của các chủ thể bao gồm tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể, qua đó xác lập, giới hạn khả năng của chủ thể đối với các hoạt động của mình trong phạm vi quyền và nghĩa vụ.
Xác định địa vị pháp lý của các chủ thể giúp phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác trong mối quan hệ với nhau. Do vậy, nghiên cứu làm rõ khái niệm địa vị pháp lý của từng chủ thể trong quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ pháp luật tố tụng hình sự nói riêng và đặc biệt là địa vị pháp lý của người bị hại là cần thiết không chỉ đối với người bị hại mà còn có ý nghĩa đối với các chủ thể khác. Chỉ khi làm rõ địa vị pháp lý của từng chủ thể trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự mới bảo vệ được quyền và lợi ích của người tham gia tố tụng có hiệu quả. Địa vị pháp lý thể hiện vị trí, vai trò của chủ thể khi tham gia vào một hoặc nhiều quan hệ pháp luật và gắn liền với nó là quyền và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm pháp lý phát sinh.
Người bi ̣ha ̣i là mô ̣t chủ thể tham gia tố tu ̣ng hình sự, có địa vị pháp lý riêng biệt so với những người tham gia tố tu ̣ng hình sự khác. Để tìm hiể u điạ vi ̣pháp lý của người bi ̣ha ̣i , cầ n xác đinh ̣ đươ ̣c khái niê ̣m người bi ̣ha ̣i. Khái niệm người bị hại đã xuất hiện từ rất sớm, khi bắ t đầ u có thủ tục tố tụng hình sự. Sau này , do ngành khoa ho ̣c nghiên cứu về na ̣n nhân ho ̣c trên thế giới phát triể n ma ̣nh vào thế kỷ XX , khái niệm người bị hại đươ ̣c các nhà nghiên cứu về tô ̣i pha ̣m ho ̣c đưa vào ứng du ̣ng trong viê ̣c xác đinh ̣ những mấ t mát , tổ n thương do tô ̣i pha ̣m gây ra từ khiá ca ̣nh của tô ̣i pha ̣m học.
Đối với Việt Nam , người bị hại là khái niệm quen thuộc trong tố tụng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình sự. Tuy nhiên thế nào là người bị hại? Địa vị pháp lý của người bị hại là gì? Phạm vi quyề n ha ̣n và nghiã vu ̣ của người bị hại ra sao… thì đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, và cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất. Vì vậy, để có sự nhận thức đầy đủ và thống nhất về khái niệm người bị hại và địa vị pháp lý của người bị hại cần phải tiếp cận khái niệm này dưới những góc độ khác nhau. Trong khoa ho ̣c luâ ̣t tố tu ̣ng hiǹ h sự, khái niệm n gười bị hại được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau với những phương pháp tiếp cận khác nhau.
Viê ̣c coi người bi ̣ha ̣i là mô ̣t cá nhân (thể nhân) thì trong các ngành khoa ho ̣c pháp lý liên quan đến tư pháp hình sự như luật hình sự , tô ̣i pha ̣m ho ̣c, luâ ̣t tố tụng hình sự, khoa ho ̣c điề u tra tô ̣i pha ̣m hầ u như không có sự tranh luâ ̣n. Vấn đề tranh luâ ̣n nhiề u nhấ t trong lý thuyế t và trong thực tiễn là trong tr ường hợp cơ quan, tổ chức (pháp nhân) bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại thì họ có phải là bị hại không thì có nhiều ý kiế n khác nhau. Ý kiến thứ nhất cho rằng người bị hại chỉ là thể nhân, một con người cụ thể; cơ quan, tổ chức không thể là người bị hại. Bởi lẽ khái niệm “người” ở đây là đề cập đến con người cụ thể.
Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần… do hành vi phạm tội gây ra, mà thể chất và tinh thần thì chỉ gắn liền với con người, một thể nhân cụ thể, thiệt hại này không thể xảy ra đối với pháp nhân hay tổ chức [42]. Ý kiến thứ hai cho rằng ngoài cá nhân là người bị hại, trong trường hợp cơ quan, tổ chức bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại thì phải xem cơ quan, tổ chức đó là người bị hại. Cần quan niệm khái niệm người bị hại theo nghĩa rộng của từ này. Những người theo quan điểm này cho rằng trong thực tế hành vi phạm tội không chỉ gây thiệt hại cho cá nhân, hành vi phạm tội trong thực tế còn nhằm đến để gây thiệt hại cho pháp nhân, tổ chức.
Thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho cơ quan, tổ chức là rất đa dạng, không thuần tuý 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là thiệt hại về tài sản. trong thực tế, cơ quan, tổ chức có thể bị thiệt hại về vật chất và tinh thần, chẳng hạn như một doanh nghiệp bị giả mạo về thương hiệu, bị vu khống làm mất uy tín trong kinh doanh. Vâ ̣y nếu nghiêng về ý kiến cho rằng ngư ời bị hại chỉ có thể là cá nhân thì cơ quan, tổ chức bị tội phạm trực tiếp xâm hại sẽ tham gia tố tụng với tư cách gì? Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam quy đinh ̣ trong trư ờng hợp này cơ quan hay tổ chức bị tội phạm xâm hại thì tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự khi có đơn yêu cầu. Quy định này chưa được hợp lý, không phù hơ ̣p với thực tiễn bởi lẽ: Thứ nhất, đối với các cơ quan, tổ chức mà tài sản thuộc về sở hữu nhà nước khi bị tội phạm gây thiệt hại, cơ quan, tổ chức đó không có đơn yêu cầu thì họ sẽ tham gia tố tụng với tư cách gì? Tài sản của nhà nước liệu được đảm bảo? Vậy khi tham gia tố tụng toà án có đưa họ vào tham gia tố tụng không và với tư cách gì? Thứ hai, dưới góc độ quyền và nghĩa vụ, có thể thấy người bị hại không chỉ là người bị tội phạm gây thiệt hại mà họ còn là chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, là chủ thể của quyền con người trong tư pháp hình sự.
Do vậy, khái niệm người bị hại cũng cần phải được xem xét trên cơ sở quyền và nghĩa vụ pháp lý [22]. Như vâ ̣y , nếu không coi cơ quan, tổ chức là người bị hại sẽ vi phạm nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án và nguyên tắc tranh tụng. Điều này thể hiện sự bất bình đẳng giữa cá nhân và cơ quan, tổ chức, vì cơ quan, tổ chức phải có đơn yêu cầu mới được tham gia tố tụng mà tham gia với tư cách là nguyên đơn dân sự và nguyên đơn dân sự thì lại không có quyền kháng cáo về hình phạt, chỉ có quyền kháng cáo về bồi thường. Điều này còn tạo nên sự khác biệt và bất bình đẳng đối với bị cáo và đối tượng được bảo vệ.
Phải chăng có sự không công bằng trong việc bảo vệ tài sản của cá nhân và cơ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan, tổ chức. Có sự không công bằng giữa bị cáo gây thiệt hại cho cá nhân và pháp nhân , tổ chức.