Tổng quan luận án

Công trình khoa học “Di sản văn hóa trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới (nghiên cứu một số làng ở Đông Anh - Hà Nội)” do nghiên cứu sinh Lê Thị Phượng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Yên, bảo vệ năm 2026 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, chuyên ngành Văn hóa học (mã số 9 22 90 40). Luận án được triển khai nhằm phân tích sự biến đổi và phương thức vận hành của di sản văn hóa trong tiến trình nông thôn Việt Nam chuyển dịch mạnh mẽ dưới tác động của Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới (MTQGXDNTM) triển khai từ năm 2010.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực tế chương trình nông thôn mới không chỉ dừng lại ở phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, kinh tế hay sản xuất, mà còn cụ thể hóa bằng hệ thống tiêu chí kỹ trị gắn liền với các cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Xây dựng làng văn hóa”, “Xây dựng nông thôn mới sáng - xanh - sạch - đẹp”. Quá trình này đã tái cấu trúc hạ tầng vật chất, phong tục tập quán, nghi lễ, không gian tín ngưỡng theo các chuẩn mực về văn minh, hiện đại và đạt chuẩn. Tuy nhiên, khoảng trống nghiên cứu hiện nay là phần lớn các công trình trong nước chỉ tập trung vào hiệu quả kinh tế, cơ sở hạ tầng, hoặc tiếp cận bảo tồn di sản thuần túy theo góc độ chính sách và mô tả sự biến đổi tập quán. Các nghiên cứu đặt di sản văn hóa trong mối quan hệ tương tác với diễn ngôn phát triển, xem di sản như một quá trình được kiến tạo, thương thảo và đàm phán giữa nhà nước và cộng đồng trong bối cảnh hiện đại hóa nông thôn còn tương đối hạn chế.

Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích quá trình duy trì, thực hành và diễn giải di sản văn hóa của cộng đồng tại một số làng ở huyện Đông Anh, Hà Nội, trong bối cảnh thực hiện Chương trình MTQGXDNTM; làm rõ cách cộng đồng nhận diện, gán ý nghĩa, điều chỉnh và trao truyền di sản; đồng thời lý giải sự tương tác giữa các định hướng, yêu cầu của chương trình với thực tiễn duy trì, thực hành và tái định hình di sản văn hóa tại địa phương. Để đạt mục đích này, tác giả xác định hai câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  1. Trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới, các giá trị văn hóa được nhận diện, gán ý nghĩa và thực hành như thế nào?
  2. Các chủ thể đã tiếp nhận, vận dụng và thương thảo với những tiêu chí, chuẩn mực và diễn ngôn của chương trình nông thôn mới như thế nào trong quá trình lựa chọn, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là di sản văn hóa trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới, tập trung vào cách thức các giá trị văn hóa được cộng đồng nhận diện, gán ý nghĩa, thực hành và điều chỉnh trong sự tương tác với chuẩn mực mới.

Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:

  • Phạm vi thời gian: Tập trung giai đoạn từ năm 2010 đến tháng 4 năm 2025, tương ứng với tiến trình triển khai Chương trình MTQGXDNTM và thời điểm hoàn tất điền dã trước khi địa phương chuẩn bị triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp; đồng thời có sự so sánh hồi cố về giai đoạn trước năm 2010.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát trọng tâm tại làng Kim (phía tây nam) đang xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu và làng An (phía bắc) đang xây dựng nông thôn mới nâng cao tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội (tên làng đã được mã hóa). Đây là vùng ven đô chịu tác động kép của đô thị hóa và đề án hợp nhất xây dựng xã thành phường, huyện lên quận. Ngoài ra, tư liệu bổ trợ được thu thập từ các làng lân cận như làng Khang, làng Đồi, làng Lý.
  • Phạm vi nội dung: Luận án phân tích thực hành di sản qua ba chiều kích: không gian làng (cảnh quan, không gian cư trú, không gian công cộng); thiết chế văn hóa (khôi phục đình, đền, miếu và nghi lễ liên quan); và thực hành văn hóa (tập trung vào phong tục tang ma).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước qua các nhóm chủ đề chính:

Nhóm nghiên cứu về di sản phê phán (Critical Heritage Studies): Tác giả điểm lại nền tảng của D. Lowenthal qua hai công trình The Past is a Foreign Country (1985, tái bản có bổ sung năm 2015) và The Heritage Crusade and the Spoils of History (1998), phân biệt lịch sử, ký ức và di sản, khẳng định di sản là quá khứ được lựa chọn và kiến tạo để phục vụ mục tiêu hiện tại. Nghiên cứu của E. Hobsbawm và T. Ranger (1983) làm rõ khái niệm “truyền thống được phát minh” (invented traditions) nhằm củng cố các giá trị chính trị và xã hội. S. Hall (1999) với bài phát biểu “Whose Heritage? Un-settling ‘The Heritage’, Re-imagining the Post-nation” tiếp cận di sản như một thực hành diễn ngôn và chỉ ra khái niệm “truyền thống có chọn lọc” chịu sự chi phối của quyền lực biểu tượng. L. Smith (2006) trong Uses of Heritage đưa ra khái niệm “Diễn ngôn di sản được ủy quyền” (Authorized Heritage Discourse - AHD), khẳng định di sản không phải là thực thể vật chất có sẵn mà là một quá trình văn hóa - xã hội gắn liền với quyền lực chuyên gia. M. Bigenho và T. Stobart (2016) đề xuất khái niệm “di sản theo cách khác” (heritage otherwise) dựa trên nghiên cứu dân tộc học tại Bolivia, mở rộng biên độ tiếp cận từ đời sống bản địa thay vì khuôn khổ chuẩn mực của UNESCO.

Nhóm nghiên cứu về di sản và chính sách tại Việt Nam: O. Salemink (2006, 2013, 2016) phân tích chính sách “bảo tồn có chọn lọc” và hiện tượng di sản hóa trong bối cảnh hậu xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam qua trường hợp quan họ Bắc Ninh. E. Harms (2016) nghiên cứu quá trình đô thị hóa tại Sài Gòn, đưa ra luận điểm về “vẻ đẹp như một hình thức kiểm soát” (beauty as control). Phạm Quỳnh Phương (2020) điểm lại sự chuyển dịch của Di sản học tại Việt Nam từ hướng tiếp cận quản lý - bảo tồn kỹ thuật sang hướng phê phán với các nghiên cứu của Schwenkel, Hy Văn Lương, Phan Phương Anh, Mai Le Quyen, Hoàng Cầm. Trần Thị An (2014) vận dụng AHD để phân tích trường hợp Nguyên phi Ỷ Lan như một cấu trúc di sản được kiến tạo qua nhiều tầng diễn ngôn. Các công trình quản lý và văn hóa truyền thống của Nguyễn Thị Hiền, Lê Hồng Lý, Ngô Đức Thịnh, Trương Quốc Bình, Hoàng Vinh cũng được tác giả điểm luận chi tiết.

Nhóm nghiên cứu về nông thôn mới và di sản tại Đông Anh: Đề tài cấp nhà nước do Nguyễn Thị Phương Châm chủ nhiệm (2021-2025) về giải pháp hoạt động văn hóa trong xây dựng nông thôn mới; các nghiên cứu của Huỳnh Văn Sinh, Đỗ Thị Hảo; hội thảo năm 2017 tại Hải Phòng và năm 2019 tại Nam Định. Tại địa bàn Đông Anh, tác giả kế thừa các tư liệu từ Trần Quốc Vượng (1970), Bùi Xuân Đính (2014), Nguyễn Anh Thư (2020), Địa chí Đông Anh (2015), Đông Anh di tích và lễ hội (2019), nghiên cứu nhân học của Nguyễn Công Thảo (2020) tại làng Dục Nội (làng Dộc), luận án của Nguyễn Thị Phượng (2017) tại làng Sáp Mai, và luận án của Nguyễn Thị Mỹ Linh (2021) về quản lý di tích.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Phần lớn các nghiên cứu về di sản ở Việt Nam vẫn dừng ở cách tiếp cận quản lý - bảo tồn kỹ thuật hoặc mô tả văn hóa - lịch sử thuần túy, trong khi các công trình về nông thôn mới chủ yếu đánh giá tiêu chí hoặc hiệu quả kinh tế. Luận án định vị mình ở giao điểm còn thiếu vắng: tiếp cận di sản như một quá trình văn hóa - xã hội mang tính động, giải mã sự tương tác giữa diễn ngôn kỹ trị của chương trình xây dựng nông thôn mới với các thực hành văn hóa của cộng đồng nông thôn ven đô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng cách tiếp cận liên ngành giữa Văn hóa học, Di sản học và Chính sách văn hóa, trong đó Văn hóa học giữ vai trò chủ đạo. Các khung lý thuyết và khái niệm công cụ bao gồm:

  • Diễn ngôn di sản được ủy quyền (AHD) của L. Smith và Bảo tồn có chọn lọc của O. Salemink: Nhận diện cơ chế áp đặt tiêu chuẩn chính thống từ trên xuống và sự phân loại các giá trị văn hóa.
  • Di sản theo cách khác (Heritage otherwise) của M. Bigenho và T. Stobart: Xem xét di sản từ nhận thức luận và thực hành đời thường của người dân địa phương.
  • Vẻ đẹp như một hình thức kiểm soát (Beauty as control) của E. Harms: Phân tích cách thức các chuẩn mực thẩm mỹ (sạch sẽ, ngăn nắp, sáng - xanh - sạch - đẹp) trở thành công cụ quản trị mềm.
  • Khái niệm công cụ: Di sản văn hóa (tiếp cận như một quá trình văn hóa - xã hội đang diễn ra), Nông thôn mới (hiểu theo 5 nội dung cơ bản của Phạm Tất Thắng), Văn minh (diễn ngôn quyền lực chuẩn hóa hành vi) và Đạo đức (công cụ định hình hành vi tập thể theo quan điểm của Malarney, Li, Harwood).

Về phương pháp, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thuần túy. Điền dã dân tộc học được thực hiện liên tục từ năm 2022 đến tháng 4 năm 2025. Các phương pháp thu thập dữ liệu cụ thể:

  1. Quan sát tham dự: Tham gia các kỳ lễ hội, nghi thức tại cơ sở thờ tự, đám tang, các hoạt động văn hóa, thể thao, sinh hoạt đoàn thể tại nhà văn hóa thôn, các cuộc họp phát động và họp tổng kết đời sống văn hóa hàng năm.
  2. Phỏng vấn sâu: Thực hiện bán cấu trúc với nhóm cán bộ quản lý và phi cấu trúc kết hợp phỏng vấn hồi cố với người dân. Tác giả áp dụng kỹ thuật chọn mẫu quả bóng tuyết (snowball sampling).
  3. Tổng hợp và phân tích tư liệu: Khai thác tài liệu thứ cấp (nghị quyết số 26-NQ/TW năm 2008, nghị quyết số 24/2008/NQ-CP, Luật Di sản văn hóa năm 2024, các báo cáo tổng kết nông thôn mới của địa phương) và so sánh, đối chiếu với dữ liệu sơ cấp điền dã.
  4. Nguyên tắc đạo đức nghiên cứu: Toàn bộ tên xã, tên làng (làng Kim, làng An), tên cơ sở thờ tự và danh tính người cung cấp thông tin đều được mã hóa để bảo đảm tính bảo mật.
Nhóm đối tượng phỏng vấn Số lượng (người) Đặc điểm đối tượng
Cán bộ cấp huyện 05 Cán bộ phụ trách văn hóa, nông thôn mới (đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu)
Cán bộ cấp xã 05 Cán bộ lãnh đạo xã, công chức văn hóa - xã hội
Cán bộ cấp thôn 07 Bí thư chi bộ, trưởng thôn, trưởng ban công tác mặt trận, đoàn thể
Người dân địa phương 36 Đa dạng về giới tính, nghề nghiệp, độ tuổi từ ngoài 30 đến hơn 90 tuổi
Tổng cộng > 50 Thu thập trong giai đoạn 2022 – tháng 4/2025

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 1 xác lập cơ sở học thuật và bối cảnh thực địa cho toàn bộ công trình. Tác giả tổng quan có hệ thống các nghiên cứu về di sản phê phán, di sản trong phát triển, các nghiên cứu về nông thôn mới tại Việt Nam và các công trình về di sản trên địa bàn huyện Đông Anh. Từ đó, chương làm rõ nội hàm các khái niệm cốt lõi: di sản văn hóa, nông thôn mới, văn minh và đạo đức; đồng thời phân tích các khung lý thuyết tiếp cận (AHD, bảo tồn có chọn lọc, vẻ đẹp như sự kiểm soát, di sản theo cách khác). Trong phần bối cảnh thực tiễn, chương trình bày sự tiếp nối của Chương trình MTQGXDNTM từ các chính sách phát triển nông thôn trước đó (như Nghị quyết Trung ương 5 khóa VII năm 1993, Nghị quyết số 26-NQ/TW năm 2008). Tác giả mô tả chi tiết địa bàn nghiên cứu tại huyện Đông Anh - một huyện ven đô ngoại thành Hà Nội đang trong quá trình thực hiện bộ tiêu chí hợp nhất xã thành phường, huyện lên quận gắn với nông thôn mới nâng cao và kiểu mẫu, chỉ ra những áp lực chuyển đổi kinh tế, xã hội và không gian tại làng Kim và làng An.

Chương 2: Không gian làng trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới

Chương 2 phân tích sự biến đổi của không gian làng dưới tác động của các tiêu chí quy hoạch nông thôn mới, so sánh giữa không gian truyền thống và không gian được tổ chức lại. Tác giả khảo sát hai khu vực không gian chính:

  • Không gian công cộng: Phân tích việc tổ chức lại hệ thống giao thông và cảnh quan thông qua việc cứng hóa đường làng, ngõ xóm, kè bờ và cải tạo ao hồ. Các phong trào chỉnh trang như “Đoạn đường tự quản”, tuyến đường hoa, dọn dẹp vệ sinh môi trường định kỳ được làm rõ như sự định hình diện mạo ngăn nắp, đồng bộ. Cổng làng được khảo cứu từ vai trò không gian văn hóa truyền thống chuyển hóa thành biểu tượng đại diện cho sự thành đạt, văn minh của nông thôn mới.
  • Không gian cư trú: Khảo sát quá trình chuyển dịch từ kiểu nhà ở truyền thống sang nhà ở kiên cố nhiều tầng kiểu đô thị. Cùng với đó, cấu trúc sân, vườn và các công trình phụ trợ truyền thống bị thu hẹp hoặc phá bỏ để thích ứng với nhu cầu sinh hoạt mới, phản ánh sự thay đổi căn bản trong mối quan hệ giữa con người với môi trường sống làng quê.

Chương 3: Thiết chế văn hóa trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới

Chương 3 tập trung vào sự phục hồi và chuyển đổi công năng của các thiết chế văn hóa truyền thống cùng các thực hành nghi lễ liên quan:

  • Khôi phục không gian thiêng: Tác giả phân tích sự tái lập của đình làng, trong đó đình không chỉ khôi phục các giá trị tâm linh mà còn được tái kiến tạo ý nghĩa và chức năng xã hội mới để trở thành không gian biểu tượng của tính cố kết cộng đồng và thành tích văn hóa địa phương. Đối với đền và miếu, tác giả làm rõ quá trình thương thảo liên tục giữa quy hoạch hạ tầng phát triển (mở rộng đường xá, xây dựng công trình công cộng) với nhu cầu bảo tồn đời sống tín ngưỡng của người dân.
  • Phục hồi các thực hành nghi lễ: Khảo sát sự phục dựng của hội làng và các lễ hội truyền thống, từ các nghi lễ nội bộ làng xã trở thành các sự kiện văn hóa cộng đồng quy mô lớn, có sự tham gia điều tiết của chính quyền cơ sở. Các nghi lễ dân gian từng bị xem là rườm rà được cộng đồng và chính quyền cùng điều chỉnh để thích ứng với các chuẩn mực đạo đức và nếp sống văn hóa mới.

Chương 4: Thực hành văn hóa trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới

Chương 4 chọn phong tục tang ma làm đối tượng phân tích điển hình nhằm làm rõ cách các chuẩn mực nông thôn mới tác động vào thực hành văn hóa đời sống thường nhật:

  • Đối chiếu tập quán tang ma truyền thống trước đây với thực hành tang ma hiện nay dưới sự chi phối của các tiêu chí “việc tang văn minh”.
  • Kiến tạo chuẩn mực: Nhà nước và chính quyền cơ sở đưa ra các quy định cụ thể về thời gian tổ chức tang lễ, quy cách phúng viếng, vệ sinh môi trường, hạn chế rải vàng mã và ăn uống linh đình.
  • Quá trình thương thảo của cộng đồng: Người dân không tiếp nhận chính sách một cách thụ động mà chủ động điều chỉnh các nghi thức tang ma cổ truyền để vừa giữ được đạo hiếu, bổn phận tâm linh với người đã khuất, vừa đáp ứng các tiêu chuẩn thi đua thôn văn hóa. Đặc biệt, chương phân tích sự thích ứng của người dân đối với tập quán mai táng mới: chuyển đổi từ địa táng sang hỏa táng, chấp nhận việc quy hoạch nghĩa trang tập trung thay thế cho việc chôn cất rải rác trên đất nông nghiệp trước đây.

Chương 5: Di sản văn hóa trong kiến tạo hình ảnh nông thôn mới: diễn ngôn, quyền lực và sự thương thảo

Chương 5 là chương phân tích lý luận sâu sắc nhất của luận án, tích hợp các dữ liệu thực địa để làm rõ cơ chế vận hành của quyền lực và diễn ngôn:

  • Di sản văn hóa trong diễn ngôn của nhà nước: Phân tích qua ba tiến trình: (1) Quy hoạch hóa di sản để đưa vào phục vụ các chỉ tiêu, bảng biểu của bộ tiêu chí nông thôn mới; (2) Văn minh hóa di sản nhằm định hình các giá trị thẩm mỹ chuẩn mực (sạch, đẹp, ngăn nắp) đại diện cho nông thôn mới; (3) Đạo đức hóa di sản, biến các giá trị truyền thống thành công cụ quản trị xã hội, khuyến khích sự tự giác tuân thủ của người dân.
  • Tương tác và thương thảo giữa các chủ thể: Chỉ ra sự đan xen và va chạm giữa các khuôn khổ đạo đức (đạo đức truyền thống, đạo đức cách mạng, đạo đức phát triển). Di sản trở thành không gian để cộng đồng đàm phán với chính quyền nhằm bảo vệ lợi ích không gian thiêng, tái tạo bản sắc địa phương trong bối cảnh nông thôn bị xáo trộn bởi làn sóng đô thị hóa.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn:

  • Đóng góp về lý luận: Công trình khẳng định di sản văn hóa không phải là những dấu tích tĩnh tại của quá khứ mà là một quá trình văn hóa - xã hội liên tục được kiến tạo, thương thảo và điều chỉnh trong đời sống đương đại. Bằng việc áp dụng các lý thuyết di sản học phê phán vào bối cảnh Việt Nam, luận án bổ sung góc nhìn lý luận về sự tương tác giữa diễn ngôn phát triển kỹ trị của nhà nước và thực hành văn hóa của người dân, mở rộng nghiên cứu văn hóa học sang việc giải mã các cơ chế quyền lực - tri thức trong phân loại và chuẩn hóa văn hóa nông thôn.
  • Đóng góp về thực tiễn: Cung cấp bức tranh toàn diện và chân thực về sự biến đổi của không gian làng, thiết chế văn hóa và tập quán tang ma tại vùng ven đô Hà Nội (huyện Đông Anh) dưới sức ép kép của nông thôn mới và đô thị hóa. Luận án chỉ ra rằng sự tham gia của người dân vào di sản không chỉ mang tính thụ hưởng mà là sự chủ động đàm phán, dung hòa các chuẩn mực mới với nhu cầu tâm linh thực tế.
  • Khuyến nghị và giải pháp: Luận án khuyến nghị các nhà hoạch định chính sách cần tránh việc hành chính hóa, kỹ trị hóa các tiêu chí văn hóa; cần tôn trọng tính đa dạng và quyền tự quyết của cộng đồng trong việc diễn giải, duy trì di sản sống; đồng thời đề xuất xem xét di sản như một tiến trình xã hội mở trong các quy hoạch phát triển nông thôn giai đoạn tiếp theo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về phạm vi địa bàn: Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào hai ngôi làng (làng Kim và làng An) thuộc huyện Đông Anh - khu vực ven đô có tốc độ đô thị hóa nhanh và áp lực chuyển đổi lên quận/phường rất lớn. Do đó, các phát hiện mang tính đặc thù cao của vùng ven đô đồng bằng sông Hồng, chưa thể đại diện cho toàn bộ các vùng nông thôn thuần nông, vùng sâu vùng xa hoặc các vùng văn hóa khác trên cả nước.
  • Về diện khảo sát thực hành: Trong phạm vi thực hành văn hóa, luận án chủ yếu đào sâu phân tích phong tục tang ma làm trường hợp điển hình, chưa thể bao quát toàn bộ các nghi lễ vòng đời khác (như cưới hỏi, mừng thọ) hay các tập quán sinh kế truyền thống.
  • Về giới hạn thể chế: Điền dã kết thúc vào tháng 4 năm 2025, ngay trước thời điểm triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nên các tác động thực tế của bước chuyển thể chế này đối với quản lý di sản chưa được đo lường trọn vẹn.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng khảo sát so sánh giữa nông thôn ven đô chịu sức ép đô thị hóa với nông thôn thuần nông xa trung tâm đô thị.
  • Đi sâu nghiên cứu sự thay đổi trong quản lý và thực hành di sản sau khi các địa phương chính thức vận hành theo mô hình thể chế hành chính mới.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với các nhà quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực tiễn để điều chỉnh bộ tiêu chí văn hóa trong xây dựng nông thôn mới và phát triển đô thị, giúp các cơ quan quản lý chuyển đổi phương thức tiếp cận từ áp đặt tiêu chí cứng sang quản trị có sự tham gia của người dân.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho các ngành Văn hóa học, Di sản học, Nhân học, Xã hội học và Chính sách công; đặc biệt là phương pháp tiếp cận di sản học phê phán và kỹ thuật nghiên cứu điền dã dân tộc học định tính.
  • Các phần đáng tham khảo nhất: Khung lý thuyết phân tích diễn ngôn và sự thương thảo tại Chương 1 và Chương 5; tư liệu thực địa chi tiết về sự chuyển đổi tập quán tang ma và quy hoạch không gian thiêng tại Chương 3 và Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tiếp cận khái niệm di sản văn hóa theo quan điểm nào?
Tác giả không giới hạn di sản ở các di tích đã được xếp hạng pháp lý, mà tiếp cận di sản như một quá trình văn hóa - xã hội đang diễn ra. Ở đó, các giá trị, thực hành, không gian, thiết chế từ quá khứ được cộng đồng nhận diện, gán ý nghĩa, duy trì, trao truyền và điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu của đời sống hiện tại.

2. Điểm khác biệt cơ bản giữa cách tiếp cận của luận án với các nghiên cứu nông thôn mới trước đây là gì?
Các nghiên cứu trước đây chủ yếu đánh giá việc hoàn thành các tiêu chí kỹ thuật, số liệu kinh tế hoặc bảo tồn di sản thuần túy theo hướng hành chính. Luận án này tiếp cận nông thôn mới như một diễn ngôn phát triển và dự án đạo đức hóa, phân tích cách nhà nước sử dụng các tiêu chuẩn thẩm mỹ, văn minh để định hình xã hội và cách người dân thương thảo với các tiêu chuẩn đó.

3. Tại sao tác giả lại chọn phong tục tang ma làm đối tượng phân tích điển hình ở Chương 4?
Tang ma là một trong những thực hành văn hóa cốt lõi, gắn liền với tâm linh, đạo hiếu và tính cố kết làng xã, nhưng đồng thời cũng là đối tượng chịu sự can thiệp mạnh mẽ nhất từ các tiêu chí kỹ trị của nông thôn mới (chủ trương việc tang văn minh, hạn chế hủ tục, chuyển đổi từ địa táng sang hỏa táng và quy hoạch nghĩa trang). Khảo sát tang ma giúp bộc lộ rõ nhất sự giằng co, thương thảo và điều chỉnh giữa chuẩn mực quản trị mới và bổn phận đạo đức truyền thống của cộng đồng.

4. Khái niệm "Vẻ đẹp như một hình thức kiểm soát" của Erik Harms được luận án vận dụng như thế nào?
Khái niệm này được vận dụng để phân tích các phong trào như đường hoa, dọn vệ sinh, cổng làng khang trang, làng xã “sáng - xanh - sạch - đẹp”. Luận án chỉ ra rằng vẻ đẹp và sự ngăn nắp không chỉ mang tính thẩm mỹ mà còn là một cơ chế quyền lực mềm, tạo ra sự đồng thuận để điều chỉnh hành vi của người dân và hợp thức hóa quá trình tái cấu trúc không gian sống nông thôn.

Kết luận

Luận án của Lê Thị Phượng là công trình nghiên cứu chuyên sâu về di sản văn hóa trong tiến trình xây dựng nông thôn mới tại vùng ven đô Hà Nội từ lăng kính văn hóa học và di sản học phê phán. Bằng nguồn tư liệu điền dã phong phú tại huyện Đông Anh trong giai đoạn 2022–2025, tác giả đã làm sáng tỏ cơ chế quy hoạch hóa, văn minh hóa và đạo đức hóa di sản của nhà nước, đồng thời phản ánh chân thực các chiến lược thích ứng, thương thảo của cộng đồng dân cư địa phương. Công trình đóng góp cả về mặt lý luận và thực tiễn, làm rõ di sản văn hóa chính là một tiến trình xã hội sống động, luôn được tái kiến tạo giữa các yêu cầu phát triển hiện đại và nhu cầu tiếp nối căn tính truyền thống.