Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động truyền thông doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng hoạt động truyền thông doanh nghiệp của công ty TNHH Đầu Tư XingFu Việt Nam Chương 3: Đề xuất giải pháp cho hoạt động truyền thông doanh nghiệp tại công ty TNHH Đầu Tư XingFu Việt Nam. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm liên quan: 1. Khái niệm truyền thông: Sự xuất hiện của hoạt động truyền thông có tác động không nhỏ tới sự ảnh hưởng về nhiều mặt trong đời sống, xã hội, chính trị, kinh tế.
Khái niệm truyền thông được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau. Một số quan điểm về truyền thông khá phổ biến được đưa ra: - “Truyền thông là quá trình liên tục nhằm làm giảm độ không rõ ràng để có thể có hành vi hiệu quả hơn” – C. Barnlund (1964) - “Truyền thông là một quá trình qua đó quyền lực được thể hiện và tính độc quyền tăng lên” – S. Schaehter - “Truyền thông quan tâm nhất đến tình huống hành vi, trong đó nguồn thông tin truyền nội dung đến người nhận với mục đích tác động đến hành vi của họ” – Gerald Miler (1966) [4, tr.
Nhìn chung các quan điểm ở trên đều có một số điểm cơ bản tương đồng mà để có thể rút ra một khái niệm truyền thông chung nhất. Truyền thông là quá trình trao đổi thông tin và có sư tương tác đa chiều giữa các cá nhân, nhóm, xã hội. Từ hoạt động trao đổi thông tin đó giúp cho cho các cá nhân, nhóm, xã hội có thêm thông tin, kiến thức về một vấn đề rồi từ đó tiến tới mức độ cao hơn đó là thay đổi nhận thức, điều chỉnh hành vi. Có thể tổng kết khái niệm này với nhận định sau: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, kiến thức, tư tưởng, tình cảm ., chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội” [4, tr.
Khái niệm truyền thông doanh nghiệp: Hoạt động truyền thông luôn giữ một vai trò quan trọng trong việc phát triển doanh nghiệp. Nhờ có nó mà doanh nghiệp có nhiều cơ hội tiếp cận gần hơn với khách hàng và kết nối các cá nhân lại với nhau hơn. Chính vì vậy, hoạt động truyền thông doanh nghiệp luôn là chủ đề được nhiều doanh nghiệp quan tâm và chú trọng. Truyền thông doanh nghiệp có hai bộ phận chính tương ứng với hai mục đích khác nhau.
Một là quảng bá hình ảnh, thương hiệu, hoặc các sản phẩm, dịch vụ thuộc sở hữu của công ty đó tới công chúng bên ngoài nhằm xây dựng mối quan hệ tin cậy giữa doanh nghiệp và công chúng. Hai là truyền tải thông điệp, thông tin chính thống từ phía đại diện doanh nghiệp tới chính toàn thể cán bộ nhân viên trong nội bộ nhằm xây dựng mối quan hệ gắn bó, gắn kết từng cá nhân vào bức tranh chung của tập thể. Hai bộ phận đó lần lượt được gọi tên là truyền thông bên ngoài và truyền thông nội bộ. Có thể hiểu đơn giản rằng hoạt động truyền thông doanh nghiệp là: “Truyền thông doanh nghiệp là tập hợp tất cả các hoạt động tuyên truyền, truyền tải thông tin xuất phát từ doanh nghiệp đến các đối tượng khác nhau như công chúng, khách hàng tiềm năng, đối tác, đối thủ cạnh tranh,… và cả nhân viên trong doanh nghiệp đó”.
Khái niệm công ty trách nhiệm hữu hạn: Hiện nay, công ty TNHH là mô hình doanh nghiệp phổ biến, được các chủ doanh nghiệp hướng đến xây dựng cho doanh nghiệp của mình. Đây là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó, có thể gồm một hoặc hai thành viên trở lên. Công ty TNHH một thành viên là loại hình doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu. Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của 7 công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có từ 2 đến 50 thành viên, bao gồm tổ chức và cá nhân. Các thành viên này chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn mà họ đã góp. Công ty TNHH có những đặc điểm nổi bật như sau: - Công ty TNHH có tư cách pháp nhân, với tài sản độc lập, trụ sở riêng, con dấu riêng và có khả năng tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập mà không phụ thuộc vào tư cách của chủ sở hữu. - Cả công ty TNHH một thành viên lẫn công ty TNHH hai thành viên trở lên không được phép phát hành cổ phiếu.
Công ty TNHH không được phép phát hành nhiều loại Chứng khoán dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử phát hành như công ty cổ phần. - Thành viên góp vốn có thể là cá nhân hay tổ chức, sở hữu một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty. Công ty TNHH một thành viên chỉ có một thành viên góp vốn làm chủ toàn bộ công ty. Để tăng thành viên góp vốn, phải chuyển đổi thành công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần.
Công ty TNHH hai thành viên trở lên có ít nhất 2 thành viên và tối đa 50 thành viên góp vốn. Nếu muốn có số thành viên góp vốn nhiều hơn năm mươi, công ty này phải chuyển đổi thành công ty cổ phần. Hoạt động của hoạt động truyền thông doanh nghiệp: 1. Truyền thông nội bộ: Truyền thông nội bộ là của một tổ chức, doanh nghiệp được xuất phát từ chính những mong muốn, định hướng và nhu cầu của tổ chức, doanh nghiệp đó.
Theo như cuốn “ Bài giảng Quan hệ Công Chúng” của tác giả Nguyễn Đình Toàn đưa ra khái niệm về quan hệ công chúng nội bộ rằng: “Quan hệ công chúng nội bộ là được hiểu là những nỗ lực nhằm tạo dựng, duy trì và phát triển 8 mối quan hệ có lợi và tốt đẹp giữa lãnh đạo của tổ chức, doanh nghiệp với công chúng nội bộ, giữa các công chúng nội bộ với nhau để đạt được mục đích chung của tổ chức doanh nghiệp” [3]. Truyền thông nội bộ có thể tạm hiểu đó là truyền thông bên trong doanh nghiệp. Nhưng nếu chỉ nói về vai trò của truyền thông nội bộ chỉ có như vậy thì sẽ là một sự thiếu sót mà không bao hàm hết được những vai trò mà hoạt động truyền thông nội bộ mang lại. * Tư vấn xây dựng chiến lược tổng thể: Chiến lược truyền thông cần có sự nắm bắt về nhiều mặt như về văn hóa doanh nghiệp, môi trường văn hóa – xã hội, chính trị, kinh tế,.
Dựa trên những cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ có những hoạt động và định hướng phù hợp phát triển chiến lược tổng thể. Để dễ hiểu thì ta sẽ thử phân tích một doanh nghiệp để có thể hiểu rõ hơn về vai trò này. Đối với Coca – Cola, họ rất quan tâm tới vấn đề phát triển bền vững nên họ cho ra mắt những hoạt động về môi trường như trại cung cấp nước sạch EKOCENTER, chai nhựa tái chế. Những chiến lược hoạt động truyền thông vô cùng ý nghĩa, không chỉ lan tỏa được văn hóa doanh nghiệp mà còn khi dấu hình ảnh đẹp trong mắt công chúng tại thị trường Việt Nam.
Không những thế, ta có thể nhìn vào các chiến dịch Tết của Coca – Cola tại Việt Nam, họ nắm bắt được tâm lý văn hóa của người Việt đó là quan tâm tới gia đình nên những TVC2 quảng cáo chiến dịch của họ đều lấy chủ đề gia đình. Điều này đã thật sự đánh thẳng vào tâm lý của những người xem cũng như tạo được sự kết nối không nhỏ đối với những người tiêu dùng. * Xây dựng, duy trì và phát triển thương hiệu: 2 Viết tắt của cụm từ “Television Commercial”, có nghĩa là quảng cáo trên truyền hình. Đây là một loại hình quảng cáo được phát sóng trên các kênh truyền hình để quảng bá sản phẩm, dịch vụ hoặc các thông điệp quảng cáo khác đến khán giả.
9 Định vị, xây dựng và quảng bá thương hiệu luôn là hoạt động mang tính bao quát và chi phối tới doanh nghiệp lớn nhất. Cần có phức hợp nhiều phương tiện truyền thông để hỗ trợ cho hoạt động này. Và truyền thông nội bộ giữ vai trò là công cụ để thực hiện hoạt động này. Từ việc cung cấp thông tin hai chiều từ doanh nghiệp đến với khách hàng bằng kế hoạch hoạch định chi tiết, tiến tới việc xây dựng niềm tin của công chúng và duy trì nó trong bộ nhớ của khách hàng.
Khi thông tin được truyền tải rộng rãi trên các kênh thì vai trò tiếp theo đó là việc bảo vệ doanh nghiệp khỏi những ảnh hưởng tiêu cực. Bên cạnh đó việc xây dựng và giữ gìn hình ảnh doanh nghiệp còn là việc đòi hỏi hoạt động truyền thông nội bộ sử dụng kết hợp nhiều công cụ và giải pháp truyền thông để vừa có thể đem hình ảnh doanh nghiệp tiếp cận tới khách hàng một cách tốt nhất, mã hóa doanh nghiệp để ghi dấu ấn trong trí nhớ của khách hàng và duy trì được hình ảnh thiện cảm trong mắt khách hàng. * Xây dựng, duy trì, củng cố mối quan hệ tốt đẹp giữa doanh nghiệp và các nhóm công chúng: Đối với nhân viên, doanh nghiệp cần có kế hoạch để thu hút nguồn nhân lực tốt. Xây dựng một môi trường văn hóa doanh nghiệp đủ hấp dẫn để giữ chân nguồn nhân lực giỏi tránh trường hợp “chảy máu chất xám”.
Tạo sự tương tác để có sự kết nối và hiểu biết lẫn nhau giữa, lãnh đạo với nhân viên, nhân viên với nhân viên với nhau. Một doanh nghiệp vững mạnh là khi có văn hóa doanh nghiệp vững mạnh. Chính những người nhân viên là bộ mặt của doanh nghiệp, điều đó chính là lí do mà doanh nghiệp cần xây dựng tốt được mối quan hệ này. Đối với nhà đầu tư, doanh nghiệp cần xây dựng được sự tín nhiệm, tin tưởng và ủng hộ của các nhà đầu tư.
Thiết lập mối quan hệ đôi bên cùng có lợi để tạo ra mối quan hệ duy trì lâu dài, minh bạch, đồng thuận của cả hai bên. 10 Với báo chí, hoạt động truyền thông vô cùng quan trọng là bởi công chúng sẽ rất quan tâm tới những thông tin hình ảnh doanh nghiệp qua các kênh truyền thông đại chúng. Vậy nên, báo chí luôn là kênh mà các doanh nghiệp cần chú trọng trong việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp.