Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề quản lý thông tin đối ngoại trên tạp chí điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay. Chương 2: Thực trạng quản lý thông tin đối ngoại trên tạp chí điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý thông đối ngoại trên tạp chí 11 điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay. 12 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TRÊN TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý Về khái niệm quản lý, có nhiều định nghĩa. Do sự khác biệt về các góc nhìn trong quản lý nên cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau, dựa vào quan điểm và cách tiếp cận của người nghiên cứu. Theo Từ điển tiếng Việt, quản lý là “trông nom, coi giữ” là “trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định.
Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [46, tr. Theo khái niệm này thì quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức Như vậy, quản lý là một yếu tố khách quan của mọi quá trình lao động xã hội, bất kể dưới hình thái xã hội nào, quản lý cần thiết đối với mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội, là một yếu tố quan trọng và quyết định nhất đến sự phát triển của mỗi tổ chức, mỗi quốc gia. Nếu xét quản lý dưới tư cách là một hoạt động, có thể hiểu quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra. Xét ở góc độ chung nhất có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và ph hợp với quy luật khách quan.
Với cách hiểu này thì quản lý có những đặc điểm chính: là một hoạt động nhằm hướng tới mục tiêu đã định; thể hiện thông qua mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý và là mối quan hệ mang tính quyền uy; là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải ph hợp với quy luật khách quan; nếu xét về mặt công nghệ thì đó là sự vận động của 13 thông tin. Từ những quan niệm trên chúng ta có thể rút ra khái niệm chung nhất về quản lý như sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu đã đặt ra trong môi trường luôn biến động. Như vậy quá trình quản lý được thực hiện thông qua hai đối tượng nhất định: chủ thể quản lý (đưa ra quyết định quản lý) và khách thể quản lý (chịu sự tác động những quyết định của chủ thể quản lý). Khái niệm thông tin đối ngoại Ngày nay, chúng ta thường xuyên bắt gặp các thuật ngữ “thông tin đối ngoại”, “công tác thông tin đối ngoại”, “người làm công tác thông tin đối ngoại”… trên các phương tiên truyền thông đại chúng.
Tuy nhiên, chưa có định nghĩa chính thức nào về thông tin đối ngoại được các cơ quan, tổ chức đưa ra. Tuy nhiên, theo những quan điểm, lập luận khác nhau của từng cá nhân hay tập thể đã có rất nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này. Trên thế giới có một số thuật ngữ mang tính chất của hoạt động thông tin đối ngoại. Cụm từ “Foreign Affair” là cụm từ được sử dụng nhiều nhất, nhắc đến như vai trò thông tin đối ngoại.
Một là, đây là “các hoạt động của một quốc gia trong các quan hệ với các quốc gia khác và trong các quan hệ quốc tế”. Hai là, đây là “các công việc liên quan tới quan hệ quốc tế và lợi ích quốc gia với nước ngoài”. Cả hai định nghĩa, cách hiểu đều phản ảnh và khái quát được tính chất chung của thông tin đối ngoại: mối quan hệ quốc tế và lợi ích quốc gia. Tuy nhiên, hai cách hiểu này chưa nhấn mạnh được đặc điểm chính của thông tin đối ngoại.
Một cụm từ khác cũng được hiểu mang nghĩa tương đương thông tin đối ngoại là “Public Diplomacy”. Theo từ điển Thuật ngữ Quan hệ quốc tế của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chỉ ra, đó là những chương trình được chính phủ bảo trợ nhằm thông tin và tác động lên quan điểm nhân dân các nước khác 14 với phương diện hoạt động chủ yếu là thông qua các ấn phẩm, phim ảnh, giao lưu văn hóa, phát thanh, truyền hình. Tuy nhiên, thuật ngữ này thực chất tương đồng với ngoại giao nhân dân, đối ngoại nhân dân, tức là một trong các loại hình đối ngoại. Trong Chỉ thị số 10/2000/CT-TTg, ngày 26/4/2000 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý và đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại, có đưa ra quan niệm về thông tin đối ngoại dựa trên chính những nhiệm vụ của thông tin đối ngoại: “Thông tin đối ngoại là một bộ phận rất quan trọng của công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta nhằm làm cho các nước, người nước ngoài (bao gồm cả người nước ngoài đang sinh sống, công tác tại Việt Nam), người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài hiểu về đất nước con người Việt Nam, đường lối, chủ trương, chính sách và thành tựu đổi mới của ta, trên cơ sở đó tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới, sự đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Tuy nhiên, đây chưa hẳn là định nghĩa mà mới chỉ dừng lại ở liệt kê các nhiệm vụ chính của thông tin đối ngoại. Theo cuốn “Sổ tay công tác Thông tin đối ngoại”, Nhà xuất bản Thông tin Truyền thông, năm 2012, dưới sự chỉ đạo biên soạn của PGS. TS Phạm Văn Linh, định nghĩa về công tác thông tin đối ngoại như sau: “Thông tin đối ngoại là thông tin quảng bá hình ảnh quốc gia, đất nước, con người, lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam; thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước Việt Nam ra thế giới và thông tin về thế giới vào Việt Nam” [43, tr5] Bên cạnh yếu tố thực tiễn, ta có thể bám sát khái niệm thông tin đối ngoại trên phương diện ngôn ngữ. Theo từ điển tiếng Việt, “Thông tin” là “Truyền tin cho nhau để biết” [46, tr.953], “Đối ngoại” là “Đối với nước ngoài, bên ngoài, nói về đường lối, chính sách, sự giao thiệp của một Nhà nước, một tổ chức” [46, tr.
Từ đó ta có thể xây dựng định nghĩa về thông 15 tin đối ngoại với nội dung: Thông tin đối ngoại có thể được hiểu là những tin tức, thông báo, tri thức về một sự vật, hiện tượng được con người tiếp nhận và chọn lựa một cách có chủ đích để sử dụng trong hoạt động truyền tải thông điệp ra bên ngoài lãnh thổ một quốc gia hay cho các đối tượng là người nước ngoài nhằm mục đích cung cấp thông tin chính thống, xác thực và tích cực nhằm nâng cao hình ảnh quốc gia đó trong mắt bạn bè quốc tế, để họ hiểu rõ, ủng hộ, giúp đỡ, hợp tác c ng phát triển. Đồng thời thông tin đối ngoại là thông tin sự kiện, nhân vật, vấn đề quốc tế vào trong nước nhằm cung cấp thông tin, định hướng dư luận đúng đắn, lành mạnh. D khác nhau về từ ngữ, nhưng ta có thể nhận thấy những đặc điểm chung của khái niệm thông tin đối ngoại. Đó là việc đưa thông tin có chủ đích ra ngoài lãnh thổ nhằm phục vụ cho một số lợi ích của quốc gia.
Nghị định 72/2015/NĐ-CP của Chính phủ đã xác định thông tin đối ngoại trên báo chí thuộc thẩm quyền và trách nhiệm quản lý của Bộ Thông tin và truyền thông: Quản lý, hướng dẫn, chủ động cung cấp thông tin cho các cơ quan thông tấn, báo chí của Việt Nam; chủ động cung cấp thông tin cho các cơ quan thông tấn, báo chí của nước ngoài; cung cấp thông tin cho người Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế; cung cấp thông tin tình hình thế giới vào Việt Nam 1. Khái niệm tạp chí điện tử Theo điều 3 Luật Báo chí 2016 thì Tạp chí điện tử là sản phẩm báo chí xuất bản định kỳ, đăng tin, bài có tính chất chuyên ngành, được truyền dẫn trên môi trường mạng [41, tr2] Trên thế giới loại hình này có nhiều tên gọi khác nhau như online newpaper (báo chí trên mạng/trực tuyến), e-journal (Electronic journal- báo chí điện tử), e-zine (Electronic magazine- tạp chí điện tử),… Ở Việt Nam, thuật ngữ báo điện tử được sử dụng khá phổ biến, chẳng hạn báo Nhân Dân điện tử, Lao động điện tử, Thanh niên điện tử,… ngoài ra 16 còn nhiều tên gọi khác như: báo mạng, báo chí internet, báo trực tuyến, báo mạng điện tử,… Theo khoản 6 Điều 3 Luật Báo chí năm 2016 thì “Báo mạng điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo mạng điện tử và tạp chí điện tử” [41]. Giấy phép hoạt động báo chí của báo mạng điện tử do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp. Cơ quan chủ quản của báo mạng điện tử là cơ quan của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức tôn giáo từ cấp tỉnh hoặc tương đương trở lên, hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam được thành lập cơ quan báo chí.
Trong cuốn Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản tác giả Nguyễn Văn Dững (chủ biên) và tác giả Đỗ Thị Thu Hằng định nghĩa: “Tạp chí là một sản phẩm của loại hình báo chí, Tạp chí bao gồm tạp chí in và tạp chí điện tử. Tạp chí in là loại hình báo chí xuất bản định kỳ từ tuần/kỳ trở lên gồm tuần san, bán nguyệt san (nửa tháng/ kỳ), bán niên san (nửa năm/kỳ), niên san (năm/ kỳ)”[19,tr11]. Định nghĩa Tạp chí là cơ quan lý luận, học thuật, khoa học của một tổ chức, đoàn thể nào đó thuộc phạm vi ngành mình, địa phương mình. Định kỳ phát hành của tạp chí thường dài hơn định kỳ phát hành của báo.