Chương 1: Cơ sở lý luận của việc sử dụng gói tin tức đa phương tiện trên báo mạng điện tử Chương 2: Thực trạng xu hướng sử dụng gói tin tức đa phương tiện trên báo mạng điện tử hiện nay luan an 12 Chương 3: Xu hướng sử dụng gói tin tức đa phương tiện trên báo mạng điện tử thông qua nghiên cứu trường hợp về chủ đề Thế vận hội Olympic Rio 2016 và Bầu cử Tổng thống Mỹ 2016 trên New York Times, The Guardian và VnExpress. Chương 4: Đánh giá những thành công, hạn chế, dự báo xu hướng và khuyến nghị tăng cường chất lượng gói tin tức đa phương tiện trên báo mạng điện tử tại Việt Nam trong thời gian tới luan an 13 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu GTT ĐPT trên BMĐT trên thế giới 1. Các hướng nghiên cứu liên quan đến GTT ĐPT trên BMĐT trên thế giới Trong quá trình thực hiện đề tài này, nghiên cứu sinh có cơ hội đi thực tế tại một số cơ quan báo chí tại Thụy Điển, Áo.
Nghiên cứu sinh cũng được toàn quyền truy cập và tải về trong thời gian một tháng hàng trăm đầu sách và bài báo khoa học về báo chí, truyền thông của nhà xuất bản Sage Journals tại địa chỉ http://sagepub.com/ và nhà xuất bản Taylor & Francis Oline Journals tại địa chỉ http://taylorandfrancis. Nghiên cứu sinh cũng nhận được sự hỗ trợ về tài liệu của giảng viên, cán bộ nghiên cứu trường đại học Monash (Úc), đại học Cork (Ireland) và đại học Kansas (Mỹ). Theo nhận định của nghiên cứu sinh, gần như không có nghiên cứu trực diện về xu hướng sử dụng của GTT ĐPT trên BMĐT. Tiếp cận GTTĐPT từ góc độ nội dung báo chí, coi thể loại báo chí kể chuyện và longform trong môi trường kĩ thuật số (Narrative journalism, Longform Journalism) là tiền thân của gói tin tức đa phương tiện hiện nay.
Dòng báo chí long-form journalism, và báo chí văn học (literary journalism) là những dòng báo chí đã có lịch sử phát triển từ thế kỉ 19, và được cho là tiền thân của các GTT ĐPT trên báo mạng điện tử ngày nay. GTT ĐPT hiện nay chính là sản phẩm báo chí của dòng longform được thể hiện với hình thức mới đặt trên nền tảng Internet, hay nói cách khác là sản phẩm của dòng “longform kĩ thuật số” (Digital longform journalism). Susan Jacobson, Jacqueline Marino, Robert E Gutsche (2016) trong bài báo "The digital animation of literary journalism” (Hoạt hình kĩ thuật số trong báo chí văn học) [35] Trong lời giới thiệu bài nghiên cứu: “The multimodality of digital long-form journalism” (Tính đa thức của báo chí dạng dài kỹ thuật số), tác giả Tuomo Hiipala [64] viết: Báo chí dạng dài kĩ thuật số (digital longform journalism) là thể loại mà các yếu tố như: ngôn ngữ viết, hình ảnh, video ngắn, biểu đồ, đồ họa kết hợp với nhau dựa trên các phương thức chuyển tiếp tinh tế, tạo thành một câu chuyện liền mạch hấp dẫn. luan an 14 Trong công trình nghiên cứu “The digital animation of literary journalism” (Chuyển động hoạt hình số của báo chí văn học), ba tác giả Susan Jacobson, Jacqueline Marino và Robert E.Gutsche Jr [35] nhận định: “Dòng báo chí longform được xem như là tên gọi khác của báo chí văn học.
“Bài longform” được mô tả là một bài viết chuyên sâu, có ít nhất 2.000 chữ về một vấn đề cụ thể. Bài viết này thu hút độc giả bằng cách kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố ĐPT gồm: văn bản, hình ảnh, biểu đồ, video tự động, mô phỏng đồ họa,. trên cùng một giao diện web. Bên cạnh đó, thể loại này còn sử dụng các phương pháp văn học để giữ chân độc giả ở lại lâu hơn”.
Qua quá trình nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển, nghiên cứu sinh nhận thấy, GTT ĐPT có lịch sử hình thành từ dòng long-form, và báo chí văn học (literary journalism). Theo Oliver Lindberg, điểm nổi bật và gắn kết giữa các GTT ĐPT với dòng longform và báo chí văn học trước đây là yếu tố nội dung. Và GTT ĐPT là báo chí văn học và báo chí dạng dài kết hợp với các yếu tố đa phương tiện và thể hiện trên nền tảng Internet. GTT hiện nay không chỉ có dung lượng dài (thường là trên 2000 chữ), chủ yếu là những tác phẩm phóng sự, tường thuật, phản ánh cuộc sống bằng cả yếu tố hiện thực lẫn nghệ thuật.
Theo các nhà nghiên cứu, đề tài, chủ đề của các GTT luôn được lựa chọn một cách cẩn thận và có tính chiến lược [55]. Các GTT ĐPT vừa đề cao tính chính xác trong quá trình xây dựng nhân vật, thể hiện sự xả thân, đầu tư hết mình cho tác phẩm, thể hiện tiếng nói cá nhân của tác giả nhưng cũng có yếu tố nghệ thuật, ẩn dụ với những hình ảnh biểu tượng ý nghĩa [53] GTT ĐPT (multimedia newspackage) là tổng hòa của hai đặc điểm về nội dung và hình thức của narrative long-form journalism (báo chí kể chuyện dài) và story visualization (hình ảnh hóa câu chuyện) trong bối cảnh số hóa nền báo chí. Một cách tiếp cận nghiên cứu GTT ĐPT là nghiên cứu những thành phần cấu thành nên nó bao gồm những vấn đề liên quan đến nền Báo chí kể chuyện dài, vấn đề sử dụng các yếu tố ĐPT làm công cụ kể chuyện và nền báo chí số. Một số tác phẩm có thể kể đến là: Journalism Online.
Oxford: Focal Press, (Báo chí trực tuyến) của tác giả Mike Ward (Ward 2002). Tác giả dành chương 5 nói về “Kết cấu câu chuyện luan an 15 trực tuyến” (trang 121 -149), chương 7 “Thiết kế trang web của bạn” (trang 164- 207), trong đó đặc biệt là phần viết về cách thể hiện GTT hiệu quả (trang 186 – 207). Tuy đã có nhiều cách làm không còn phù hợp bởi GTT hiện nay đã khác xa rất nhiều so với GTT trước đây, nhưng là nguồn tham khảo để tác giả tìm hiểu, so sánh về quá trình thay đổi của kết cấu và giao diện các GTT. Bài báo của Maria Massila –Merisalo, 2014 có tên Story first – Publishing Narative Long-form Journalism in Digital Environment (Câu chuyện là hàng đầu – Xuất bản báo chí tường thuật dài trong môi trường kĩ thuật số) tại Journal of Magazine & New Media Research cho rằng “dù ĐPT giúp tăng cường tính chân thật, hấp dẫn của bài báo mạng nhưng cũng chính ĐPT đôi khi lại giảm sự “đắm chìm”, nhập tâm của độc giả vào dòng chảy bài viết”, và tác giả đưa ra kết luận nội dung câu chuyện của bài báo vẫn là yếu tố quan trọng nhất.
Một số sách và bài báo nghiên cứu về tính đa thức và các yếu tố đa phương tiện giúp cho nghiên cứu sinh hiểu rõ các yếu tố đa phương tiện, các thuộc tính, cách sử dụng trong các câu chuyện đa phương tiện. Các tác giả Steensen, Steen, and Laura Ahva. 2015 trong bài báo “Graphic Literacies for a Digital Age: The Survival of Layout (Năng lực sử dụng đồ họa trong kỷ nguyên số: Sự tồn tại của bố cục) khẳng định bố cục, cách trình bày các yếu tố đa phương là yếu tố quan trọng làm nên sự khác biệt. Nghiên cứu những yếu tố đồ họa trong báo chí văn học, nhấn mạnh những khác biệt của báo chí văn học trên nền tảng kĩ thuật số (Jacobson, Susan, Jacqueline Marino, and Robert E.
“The Digital Animation of Literary Journalism.”(Hoạt hình kỹ thuật số trong Báo chí văn học) Ngoài ra, các phân tích sâu về tính đa thức báo chí, đi sâu nghiên cứu các yếu tố đa thức trong các bài báo giúp nghiên cứu sinh thêm hiểu biết đa chiều và thêm các ví dụ để đối sánh trong quá trình nghiên cứu. Có thể kể đến hai tác phẩm nổi bật là: Jewitt, Carey, ed. The Routledge Handbook of Multimodal Analysis. London:Routledge (Sổ tay Routledge về Phân tích Đa thức) và cuốn của Norris, Sigrid, and Carmen D.
Interactions, Images and luan an 16 Texts: A Reader in Multimodality (Tương tác, hình ảnh và văn bản: Một người đọc trong đa thức). Tiếp cận từ góc độ loại hình báo chí, nhấn mạnh các đặc trưng và chất lượng từ góc độ hình thức của bài báo mạng điện tử (Performance quality of Online journalism, Digital journalism). Các nhà nghiên cứu tập trung nghiên cứu điểm khác biệt gốc gác của báo chí trực tuyến với báo in truyền thống: đó là tính siêu văn bản (hypertext). Lev Manovich trong cuốn The Language of New Media, MIT Press xuất bản 2001 mô tả các câu chuyện sử dụng siêu văn bản như là “những chuyện kể dựa trên cơ sở dữ liệu” (database narratives), bao gồm các mảng ghép thông tin liên tiếp được nhóm lại thành các khuôn dạng mới.
Tác giả cũng đề cập các yếu tố như “yếu tố điều hướng” – navigation và “yếu tố mở, chưa kết thúc”, đều là yếu tố cần xem xét trong nghiên cứu về hình thức thể hiện bài báo ĐPT. Giáo sư Đại học MIT Janet H. Murray đã viết về các hình thức tường thuật trong môi trường siêu văn bản có thể làm được. Cụ thể, trong “Hamlet on the Holodeck: the Future of Narrative in cyber space” xuất bản năm 1997 mô tả môi trường truyền thông mới (Internet) là có “tính hệ thống, có sự tham gia (của công chúng), là bách khoa toàn thư, và (nhiều chiều) không gian”.
Trong đó, có “tính hệ thống” nghĩa là có thể thêm nội dung bởi người dùng hoặc nguồn khác thông qua lập trình máy tính, "có sự tham gia", có nghĩa là cởi mở đối với sự đóng góp hoặc thay đổi bởi người dùng / người đọc / người xem; “bách khoa toàn thư" nghĩa là sự toàn vẹn, đầy đủ thông tin về khả năng kể chuyện; và "không gian" có nghĩa là một cấu trúc tường thuật này giúp người đọc tự có thể tự “điều hướng”, một nghiên cứu từ rất sớm, khi mà công nghệ thực tế ảo và các công nghệ số tiên tiến trong kể chuyện kĩ thuật số mới manh nha ra đời, tác giả Muray đã khám phá ra những đặc tính đặc biệt của tường thuật, kể chuyện và thiết kế câu chuyện trên không gian mạng – và GTT ĐPT ngày nay cũng chính là sự nâng cao của những đặc điểm căn bản ấy. luan an 17 Cuốn của tác giả Jim Hall có tên Online Journalism – a critical primer, xuất bản năm 2001(Báo chí trực tuyến – một căn bản quan trọng), cung cấp lý luận căn bản về BMĐT [30]. Tác giả Jim Hall khẳng định chúng ta đang sống trong một hiện thực một xã hội thông tin, mà Internet có tác động mạnh mẽ và toàn cầu. Tác giả làm rõ những đặc điểm mang tính bản thể của tin tức trong bối cảnh Internet toàn cầu hiện nay, lịch sử phát triển của BMĐT từ khi world wide web ra đời cho đến nay.
Trong chương Giới thiệu và chương 1.