Tổng quan luận án

Đề tài "Xu hướng sử dụng gói tin tức đa phương tiện trên báo mạng điện tử hiện nay (Nghiên cứu báo mạng điện tử VnExpress, New York Times, The Guardian từ năm 2014 – 2016)" do nghiên cứu sinh Ngô Bích Ngọc thực hiện, thuộc chuyên ngành Báo chí học (Mã số: 9 320 101) tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang và PGS.TS Đinh Thị Thúy Hằng, bảo vệ năm 2019.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sự kiện tác phẩm Snow Fall: The Avalanche at Tunnel Creek xuất hiện trên báo mạng điện tử The New York Times vào ngày 20/12/2012 đã tạo ra sự thay đổi căn bản trong phương thức thể hiện tác phẩm báo chí trực tuyến. Tác phẩm đã tích hợp video nền tự động lặp (looping video), hình ảnh toàn màn hình, đồ họa tương tác thay đổi theo thao tác cuộn chuột và hiệu ứng chuyển cảnh rèm cửa (curtain transition). Kể từ dấu mốc này, hình thức gói tin tức đa phương tiện (GTT ĐPT) được các tòa soạn báo chí quốc tế lớn đẩy mạnh sản xuất. Trong bản Báo cáo thường niên năm 2016, Tổ chức Báo chí và Xuất bản Thế giới (WAN-IFRA) đã chỉ ra rằng công chúng không còn bị ấn tượng bởi thiết bị mà kỳ vọng vào cách nội dung báo chí được "đóng gói" và phương thức phát hành.

Tại Việt Nam, dù báo chí mạng điện tử phát triển nhanh nhưng nhận thức lý luận và kỹ năng thực hành về GTT ĐPT còn nhiều hạn chế. Việc sản xuất GTT ĐPT đối mặt với nhiều rào cản về nhân lực, quy trình tổ chức, tài chính và công nghệ. Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: chưa có công trình khoa học nào trong nước nghiên cứu một cách trực diện, toàn diện và có hệ thống về GTT ĐPT trên cả phương diện lý luận lẫn khảo sát thực nghiệm đối sánh quốc tế.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn của báo chí trong và ngoài nước để bước đầu xây dựng khung lý thuyết về GTT ĐPT trên báo mạng điện tử; khảo sát thực trạng sử dụng GTT ĐPT trên 3 tờ báo diện nghiên cứu; phân tích các yếu tố tác động để nhận diện và dự báo xu hướng sử dụng GTT ĐPT.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Một là, hệ thống hóa và bước đầu xây dựng cơ sở lý luận liên quan đến GTT ĐPT: làm rõ các khái niệm cơ bản, lịch sử hình thành, phân loại thể loại, mục đích, cấu trúc, ngôn ngữ thể hiện và phương thức sáng tạo.
    2. Hai là, khảo sát nội dung nhằm xác định thực trạng sử dụng GTT ĐPT trên 3 tờ báo diện khảo sát từ ngày 01/01/2014 đến ngày 31/12/2016; đối chiếu, so sánh và đánh giá các sản phẩm của Việt Nam với nước ngoài.
    3. Ba là, phân tích các yếu tố tác động đến việc sử dụng GTT ĐPT, từ đó nhận định xu hướng vận động và đề xuất các khuyến nghị nâng cao chất lượng GTT ĐPT tại Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu trung tâm:

  1. GTT ĐPT phải chăng là một dạng tác phẩm báo chí mới với những kết cấu mới, được ứng dụng linh hoạt và ở mức độ hiện đại các yếu tố đa phương tiện nhằm đạt hiệu quả kể chuyện và lan tỏa thông tin?
  2. Những yếu tố đa phương tiện, giao diện và cấu trúc tường thuật nào (theo các khung lý thuyết của Landow, Nelson, Manovich, Murray) được ứng dụng để tạo ra các cách kết hợp mới trong GTT ĐPT?
  3. Yếu tố chi phí sản xuất (thường đòi hỏi tài trợ) có phải là nguyên nhân chính tác động đến quyết định sản xuất và tần suất xuất bản GTT ĐPT của các tòa soạn?
  4. Tại sao GTT ĐPT đã phát triển mạnh ở nước ngoài nhưng tại Việt Nam còn xuất hiện ít, có phải do khó khăn tài chính dẫn đến việc ưu tiên các hình thức đa phương tiện chi phí thấp?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Xu hướng sử dụng gói tin tức đa phương tiện trên báo mạng điện tử.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian khảo sát: 3 cơ quan báo mạng điện tử đại diện cho 3 nền báo chí: The New York Times (Mỹ), The Guardian (Anh) và VnExpress (Việt Nam).
    • Thời gian khảo sát: Giai đoạn 3 năm, từ ngày 01/01/2014 đến ngày 31/12/2016.
    • Chủ đề nghiên cứu trường hợp chuyên sâu: Sự kiện thể thao Thế vận hội Olympic Rio 2016 và sự kiện chính trị Bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Nghiên cứu sinh đã tổng hợp tài liệu học thuật quốc tế từ các nhà xuất bản như Sage Journals, Taylor & Francis, cùng tài liệu từ Đại học Monash (Úc), Đại học Cork (Ireland) và Đại học Kansas (Mỹ), phân loại thành các nhóm tiếp cận chính:

  1. Tiếp cận từ góc độ thể loại báo chí kể chuyện và longform kỹ thuật số:
    • Susan Jacobson, Jacqueline Marino và Robert E. Gutsche Jr (2015, 2016) trong các công trình về "The digital animation of literary journalism" xác định longform kỹ thuật số là sự kế thừa của báo chí văn học, kết hợp kỹ thuật cuộn song song (parallax scrolling) và các yếu tố đồ họa động để tạo thành cấu trúc tường thuật liền mạch.
    • Tuomo Hiippala (2012, 2013) nghiên cứu "The multimodality of digital long-form journalism", phân tích dòng chảy văn bản, hình ảnh và trang trên 12 bài longform, chỉ ra cách thức kết hợp đa thức chiếm trọn màn hình và các kỹ thuật chuyển cảnh điện ảnh (wipe, dissolve).
    • Maria Lassila-Merisalo (2014) với bài báo "Story first – Publishing Narrative Long-form Journalism in Digital Environment" nhấn mạnh rằng nội dung câu chuyện vẫn là yếu tố quyết định, tránh lạm dụng đa phương tiện gây gián đoạn trải nghiệm người đọc.
    • Carey Jewitt, Sigrid Norris và Carmen Daniela Maier với các nghiên cứu phân tích đa thức (Multimodal Analysis).
  2. Tiếp cận từ góc độ đặc trưng siêu văn bản và chất lượng báo chí trực tuyến:
    • Lev Manovich (2001) trong cuốn The Language of New Media đưa ra khái niệm "tường thuật dựa trên cơ sở dữ liệu" (database narratives).
    • Janet H. Murray (1997) trong Hamlet on the Holodeck phân tích 4 thuộc tính của môi trường mạng: tính hệ thống, tính có sự tham gia, tính bách khoa và tính đa chiều không gian.
    • Jim Hall (2001) trong cuốn Online Journalism – A Critical Primer khẳng định tin tức thời kỳ Internet có xu hướng chuyển từ thuần túy thu thập tin tức (news-gathering) sang đóng gói tin tức (news-packaging), dẫn chứng thực tế từ AOL và biên tập viên Stephen Miller của The New York Times.
    • Mark Deuze (2004) trong tác phẩm What is multimedia journalism đưa ra 3 tiêu chí cốt lõi: siêu văn bản, tính tương tác và khả năng đa phương tiện.
    • George Landow (2006) trong Hypertext 3.0 nhận diện tính đa tuyến (multilinearity) và tính đa thanh (multivocality).
    • Thorsten Quandt (2008) và Jane Singer (2004) khảo sát thực trạng nội dung đa phương tiện và mức độ tùy biến nội dung của các biên tập viên trực tuyến tại Mỹ và Châu Âu.
  3. Tiếp cận từ góc độ công nghệ kỹ thuật số và tổ chức tòa soạn:
    • Mindy McAdams (2005) trong cuốn sách Flash Journalism: How to Create Multimedia News Packages là một trong những học giả đầu tiên hệ thống hóa cấu trúc gói tin tức và ứng dụng phần mềm Flash trong thiết kế tương tác.
    • Richard Hernandez và Jeremy Rue (2015) trong cuốn The Principles of Multimedia Journalism: Packaging Digital News đã phân tích quá trình tiến hóa của các gói tin số và xây dựng mô hình tam giác phân loại GTT.
    • Paul Grabowicz, Richard Hernandez và Jeremy Rue tại Viện Truyền thông Nâng cao thuộc Trường Báo chí UC Berkeley (Mỹ) đưa ra giáo trình phân loại GTT ĐPT thành tuyến tính và phi tuyến tính.
    • Dowling và Vogan (2015) phân tích khái niệm "thùng chứa nhận thức" (cognitive container) trong việc giữ chân độc giả longform.

Các nghiên cứu tại Việt Nam

  • Về chủ trương và cơ sở pháp lý: Luật Báo chí sửa đổi năm 2016 và Quyết định số 362/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 nhấn mạnh định hướng xây dựng các cơ quan báo chí chủ lực đa phương tiện.
  • Về công trình nghiên cứu: Bài viết "Gói tin tức đa phương tiện trên báo mạng điện tử" của Nguyễn Thị Trường Giang (Tạp chí Người làm báo, 7/2016) bước đầu mô tả khái niệm và cấu trúc GTT.
  • Các giáo trình lý luận nền tảng của Tạ Ngọc Tấn (1999), Đinh Thị Thúy Hằng (2008), Hoàng Đình Cúc (2007), Nguyễn Văn Dững (2011, 2012), Nguyễn Thị Trường Giang (2011, 2014, 2015, 2017).
  • Các bài báo khoa học và đề tài cấp cơ sở của Trương Thị Kiên (2014), Hà Huy Phượng (2014), Nguyễn Sơn Minh (2018).
  • Các luận văn thạc sĩ bước đầu khảo sát ứng dụng đa phương tiện đơn lẻ của Đào Thu Trang (2013), Võ Thị Trung Thu (2014), Trần Lê Trúc Hà (2014).

Khoảng trống luận án giải quyết

Các công trình quốc tế chủ yếu tập trung vào hướng dẫn kỹ năng thực hành hoặc phân tích các khía cạnh đơn lẻ; các tài liệu trong nước mới dừng lại ở việc phác thảo bức tranh chung về hội tụ truyền thông. Luận án giải quyết khoảng trống học thuật bằng cách xây dựng hệ thống khái niệm, tiêu chí phân loại, xác lập mô hình các yếu tố chi phối quy trình sản xuất, đồng thời kiểm chứng thực nghiệm thông qua phương pháp định lượng và nghiên cứu trường hợp đối sánh giữa Việt Nam và thế giới.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Hệ thống cơ sở lý thuyết

  1. Quan điểm Mác - Lênin và lý luận báo chí truyền thông: Vận dụng các nguyên tắc về tính chân thật, tính định hướng và chức năng xã hội của báo chí; các chủ trương, đường lối quản lý báo chí của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
  2. Lý thuyết "Các thứ bậc ảnh hưởng" (Hierarchy of Influences): Do Pamela Shoemaker và Stephen D. Reese phát triển (1996, 2001). Lý thuyết xem xét 5 cấp độ tác động từ vĩ mô đến vi mô chi phối nội dung truyền thông:
    • Cấp độ hệ thống xã hội (Social systems).
    • Cấp độ các tổ chức xã hội (Social institutions).
    • Cấp độ tổ chức truyền thông / tòa soạn (Media organizations).
    • Cấp độ quy trình tác nghiệp thông thường (Routine practices).
    • Cấp độ cá nhân người làm báo (Individuals). Khung lý thuyết này được luận án sử dụng để phân tích các yếu tố định hình xu hướng sử dụng GTT ĐPT.
  3. Lý thuyết tính đa thức của sản phẩm báo chí dạng dài kỹ thuật số (Multimodality of digital longform journalism): Phát triển từ ký hiệu học truyền thông của Arthur Asa Berger (1998), Daniel Chandler (2007), Sigrid Norris và Carmen Daniela Maier. Khung này dùng để phân tích cấu trúc mã hóa ngữ nghĩa, hình ảnh, văn bản và tương tác trong bài báo.
  4. Lý thuyết "Sử dụng và Hài lòng" (Uses and Gratifications): Hình thành từ thập niên 1940 tại Mỹ và được Denis McQuail hệ thống hóa sau thập niên 1960. Lý thuyết giải thích động cơ và hành vi tiếp nhận thông tin được cá thể hóa của công chúng trên nền tảng Internet.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp phân tích nội dung truyền thông (Content Analysis):
    • Tổng thể khảo sát: Hơn 500 GTT ĐPT xuất bản trên The New York Times, The Guardian và VnExpress giai đoạn 2014 – 2016.
    • Quy mô mẫu phân tích chi tiết: Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống (systematic random sampling) với bước nhảy $k = 3$, chọn 20 bài/báo/năm (tương đương 60 bài/tờ báo trong 3 năm). Tổng số mẫu nghiên cứu chuyên sâu gồm 160 bài (trong đó 157 bài đủ tiêu chuẩn mã hóa hoàn chỉnh).
    • Kiểm định độ tin cậy: Hai người tiến hành mã hóa độc lập với tỷ lệ trùng lặp 10,43% ($n = 16$). Mức độ thống nhất trung bình đạt 93%, chỉ số độ tin cậy Krippendorff's Alpha trung bình đạt 0,8245.
    • Công cụ xử lý: Phần mềm SPSS (xử lý dữ liệu định lượng) và NVivo (hỗ trợ phân tích dữ liệu định tính).
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study): Khảo sát toàn diện các GTT ĐPT phản ánh hai sự kiện năm 2016: Thế vận hội Olympic Rio 2016 (chủ đề thể thao) và Bầu cử Tổng thống Mỹ 2016 (chủ đề chính trị).
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn 17 chuyên gia và nhà báo chia thành 3 nhóm:
    • Nhóm 1 (9 người): Người trực tiếp sản xuất GTT ĐPT (4 biên tập viên, 2 phóng viên, 2 họa sĩ thiết kế/đạo diễn, bao gồm nhà báo Nguyễn Đình Chính - nguyên Trưởng ban ĐPT báo VnExpress, Giáo sư Aileen Gallagher - Đại học Syracuse).
    • Nhóm 2 (3 người): Cán bộ quản lý cơ quan báo chí (trong đó có nhà báo Lê Quốc Minh - Tổng biên tập báo điện tử VietnamPlus thời điểm phỏng vấn).
    • Nhóm 3 (5 người): Các chuyên gia, nhà nghiên cứu truyền thông và nhà báo quốc tế (trao đổi qua điện thoại, email, Facebook Messenger).
  • Nguồn tài liệu thứ cấp: Dữ liệu báo cáo khảo sát của Pew Research Center, Poynter Institute, Reuters Institute, Nieman Lab, WAN-IFRA.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc sử dụng gói tin tức đa phương tiện trên báo mạng điện tử

Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm, đặc điểm, cấu trúc phân loại và tiêu chí đánh giá GTT ĐPT:

  • Khái niệm: GTT ĐPT trên báo mạng điện tử là một tác phẩm báo chí hoàn chỉnh, dung lượng lớn, phản ánh một sự kiện, vấn đề hay chủ đề chuyên sâu bằng sự kết hợp hài hòa, phi dư thừa của ít nhất 6 thành tố: văn bản (text), hình ảnh tĩnh (still image), hình ảnh động (animation), âm thanh (audio), video và các chương trình tương tác (interactive program), được tổ chức trên nền tảng công nghệ số.
  • Phân loại GTT ĐPT:
    • Theo Paul Grabowicz (UC Berkeley): Chia thành dạng Tuyến tính (Linear - người đọc phải cuộn dọc liên tục theo cấu trúc sắp đặt sẵn) và Phi tuyến tính (Non-linear - người đọc tự do nhấp chọn các thành phần độc lập trong một giao diện chung/shell).
    • Theo R. Hernandez và J. Rue: Phân loại theo mô hình không gian tam giác dựa trên mức độ tương tác và tính chất của các phương tiện truyền thông.
    • Phân loại của luận án: Luận án đề xuất phân loại GTT ĐPT thành 4 nhóm hình thức thể hiện chính:
      1. Nhóm Liên tục (Continuous): Cấu trúc tuyến tính liền mạch, dẫn dắt câu chuyện qua thao tác cuộn chuột (scrollytelling, parallax scrolling).
      2. Nhóm Toàn diện (Comprehensive): Cung cấp một khung giao diện tổng thể chứa nhiều liên kết thành phần, người đọc có thể tiếp cận mọi chiều cạnh của đề tài.
      3. Nhóm Nhập vai (Immersive): Sử dụng công nghệ thực tế ảo (VR), video $360^\circ$ hoặc đồ họa mô phỏng 3D giúp độc giả trải nghiệm không gian sự kiện.
      4. Nhóm Hỗn hợp (Hybrid): Kết hợp linh hoạt giữa cấu trúc cuộn trang liên tục với các phân đoạn mô-đun dữ liệu tương tác độc lập.
  • Các yếu tố tác động đến xu hướng sản xuất GTT ĐPT: Dựa trên mô hình Shoemaker & Reese, luận án chỉ rõ 5 lực đẩy chính: (1) Quan điểm, chính sách phát triển báo chí của quốc gia; (2) Tôn chỉ mục đích, chiến lược kinh doanh của tòa soạn; (3) Nền tảng phân phối và kênh phát hành thông tin; (4) Tương tác giữa người sản xuất và nhu cầu tiếp nhận của công chúng; (5) Tiến bộ của công nghệ web (HTML5, CSS3, JavaScript, WebGL).
Nhóm phân loại GTT ĐPT Đặc trưng kết cấu Trải nghiệm tiếp nhận của độc giả Ví dụ điển hình
Nhóm Liên tục (Continuous) Tuyến tính, cuộn trang dọc (parallax scroll), chuyển cảnh rèm cửa Đọc liền mạch, tiếp cận theo trật tự tác giả biên soạn Snow Fall (NYT), A Game of Shark and Minnow (NYT)
Nhóm Toàn diện (Comprehensive) Khung giao diện (shell) cố định, tích hợp menu điều hướng Độc giả chủ động bấm chọn nhánh nội dung Firestorm (TG), Sự kiện nổi bật thế giới 2014 (VNE)
Nhóm Nhập vai (Immersive) Không gian ảo, video $360^\circ$, đồ họa 3D tương tác Cảm giác hiện diện trực tiếp trong bối cảnh The Modern Games (NYT), mô phỏng VR
Nhóm Hỗn hợp (Hybrid) Kết hợp dòng tự sự cuộn trang với mô-đun tra cứu dữ liệu Tùy biến giữa đọc cốt truyện và tương tác dữ liệu Decisive moments at Rio (NYT), Metro Sài Gòn (VNE)

Chương 2: Thực trạng xu hướng sử dụng gói tin tức đa phương tiện trên báo mạng điện tử hiện nay

Chương 2 khảo sát thực nghiệm các GTT ĐPT trên VnExpress (Việt Nam), The New York Times (Mỹ) và The Guardian (Anh) giai đoạn 2014 – 2016:

  • Về số lượng và tần suất xuất bản:
    • The New York Times và The Guardian duy trì tần suất xuất bản GTT ĐPT đều đặn hàng tuần với hàng trăm tác phẩm mỗi năm. Số lượng GTT ĐPT tăng trưởng mạnh qua các năm khảo sát.
    • VnExpress bắt đầu thử nghiệm từ năm 2014 với số lượng khiêm tốn (khoảng vài chục tác phẩm), chủ yếu tập trung vào các dịp tổng kết năm hoặc các sự kiện thời sự đặc biệt lớn.
      Tần suất xuất bản GTT ĐPT giai đoạn 2014 - 2016 (Mô tả tương đối)
Số lượng GTT
     Năm 2014       Năm 2015        Năm 2016
  • Về nội dung và đề tài phản ánh:
    • Báo chí quốc tế (NYT, TG): Đề tài phong phú, trải rộng từ điều tra chính trị, xung đột vũ trang (chiến sự tại Aleppo, Homs - Syria), khoa học - môi trường (Một câu chuyện về dầu cọ trên The Guardian), phóng sự văn hóa - xã hội (Những người phụ nữ ở học viện quân sự West Point trên NYT) đến đồ họa phân tích thể thao đỉnh cao.
    • VnExpress: Đề tài tập trung chủ yếu vào các vấn đề chính trị - xã hội trong nước và các sự kiện an ninh chủ quyền, tiêu biểu như: GTT 30 ngày Trung Quốc gây căng thẳng ở Biển Đông (vụ giàn khoan Hải Dương 981 năm 2014), GTT Kết quả lấy phiếu tín nhiệm năm 2014, GTT Chìm phà Sewol (2014), GTT Metro Sài Gòn, GTT Những nấc thang quan trọng trong quan hệ Việt – Mỹ (2016).
  • Về kỹ thuật và hình thức thể hiện:
    • NYT và TG: Khai thác triệt để các kỹ thuật hiện đại như video nền tự động, đồ họa dữ liệu tương tác thời gian thực, âm thanh nhúng theo ngữ cảnh, bản đồ định vị tương tác (như bản đồ lưu lượng tàu qua kênh đào Panama mới), câu hỏi trắc nghiệm anket so sánh dữ liệu người đọc trực tiếp (The Guardian).
    • VnExpress: Hình thức thể hiện trong giai đoạn này phần lớn dừng ở dạng ghép nối bài viết tĩnh với chùm ảnh, video clip đính kèm đơn giản hoặc infographic tĩnh dạng ảnh dài; tính năng tương tác đa chiều còn hạn chế do hạ tầng kỹ thuật và công cụ biên tập chưa được tự động hóa.

Chương 3: Xu hướng sử dụng gói tin tức đa phương tiện trên báo mạng điện tử thông qua nghiên cứu trường hợp về chủ đề Thế vận hội Olympic Rio 2016 và Bầu cử Tổng thống Mỹ 2016 trên New York Times, The Guardian, VnExpress

Chương này phân tích sâu hai trường hợp điển hình nhằm so sánh cách thức xử lý thể loại tin nóng (hard news / chính trị) và thể loại tường thuật phân tích (thể thao):

  1. Chủ đề Thế vận hội Olympic Rio 2016:
    • The New York Times và The Guardian tập trung sản xuất các GTT ĐPT phân tích cơ sinh học và kỹ thuật chuyển động của vận động viên đỉnh cao. Tiêu biểu là chuỗi tác phẩm The Fine Line: What makes Simone Biles the world’s best gymnast, Simon Biles in motion trên The Guardian, hay How Usain Bolt came from behind again to win gold, Usain Bolt and the fastest men in the world since 1896 - on the same track.
    • Kỹ thuật sử dụng: Cắt ghép chuỗi khung hình chuyển động (frame-by-frame), biểu đồ miền thị giác hóa dữ liệu thành tích, mô phỏng so sánh không gian thực tế và trò chơi tương tác kiểm tra kiến thức (Olympic bodies: Can you guess their sport?).
    • VnExpress: Chủ yếu đưa tin kết quả thi đấu, tường thuật diễn biến hàng ngày dưới dạng tin bài ảnh và video tổng hợp; số lượng GTT ĐPT chuyên biệt phân tích chuyển động còn rất ít.
       QUY TRÌNH KỂ CHUYỆN ĐA PHƯƠNG TIỆN TẠI OLYMPIC RIO 2016 (NYT, TG)
  1. Chủ đề Bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2016:
    • The New York Times và The Guardian đầu tư nguồn lực lớn vào các GTT ĐPT phân tích dữ liệu bầu cử, điển hình như: First Clinton and Trump debate: Analysis, How Trump reshaped the election map, Which issues each party debates, or ignores, Utah - 2016 election forecast, The new Republican center of gravity.
    • Đặc điểm nổi bật: Ứng dụng bản đồ tương tác cập nhật dữ liệu trực tiếp theo thời gian thực (live-updating interactive maps), đồ họa phân tích cử tri (What’s driving Trump and Clinton voters to the polls), video phân tích tranh luận có chia dòng sự kiện (timestamped video analysis).
    • VnExpress: Triển khai đưa tin đa dạng nhưng phần lớn dẫn lại nguồn dữ liệu quốc tế hoặc sử dụng biểu đồ tĩnh (như infographic trích nguồn từ Wall Street Journal trong bài Thế thắng chẻ tre của Trump và đảng cộng hòa).

Chương 4: Đánh giá những thành công, hạn chế, dự báo xu hướng và khuyến nghị tăng cường chất lượng gói tin tức đa phương tiện trên báo mạng điện tử Việt Nam trong thời gian tới

Chương 4 đúc kết các phát hiện thực nghiệm, nhận diện rào cản và đề xuất hệ thống giải pháp:

  • Thành công và nguyên nhân: Các cơ quan báo chí quốc tế thành công nhờ chiến lược chuyển đổi số quyết liệt, sự phối hợp liên phòng ban giữa phóng viên, lập trình viên và họa sĩ thiết kế (Data Journalism team), cùng nguồn ngân sách đầu tư nghiên cứu phát triển (R&D) dồi dào. VnExpress bước đầu nắm bắt nhanh nhạy xu hướng thị giác hóa thông tin, phục vụ tốt các đề tài chính trị xã hội nổi bật trong nước.
  • Hạn chế và nguyên nhân: Tại Việt Nam, chi phí sản xuất một GTT ĐPT hoàn chỉnh còn cao; thiếu công cụ tạo dựng giao diện trực tiếp (toolkits/templates) cho nhà báo; hạ tầng máy chủ và trải nghiệm tối ưu trên thiết bị di động chưa đồng bộ; đội ngũ phóng viên còn quen nếp tác nghiệp báo in hoặc báo mạng văn bản truyền thống.
  • Dự báo 7 xu hướng phát triển của GTT ĐPT:
    1. Hình thức đưa tin theo gói tiếp tục được đẩy mạnh nhờ công nghệ số hóa hỗ trợ nội dung báo chí.
    2. Xu hướng tối ưu hóa và ưu tiên sản xuất GTT ĐPT chuyên biệt trên thiết bị di động (Mobile-first newspackages).
    3. Sự phụ thuộc ngày càng lớn vào thuật toán phân phối của các nền tảng mạng xã hội (Facebook, Google).
    4. Nội dung GTT ĐPT ngày càng mang tính cá thể hóa cao dựa trên hành vi bạn đọc.
    5. Đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, chuyên môn hóa giữa các khâu trong quy trình sản xuất tòa soạn hội tụ.
    6. Gắn liền với xu hướng sản xuất nội dung thu phí (paid content / digital subscription) hoặc liên kết đối tác tài trợ nội dung chất lượng cao.
    7. Gia tăng mạnh mẽ các hình thức kể chuyện tương tác (interactive storytelling).
  • Khuyến nghị cho báo mạng điện tử Việt Nam: Luận án đề xuất 5 nhóm khuyến nghị cụ thể:
    1. Về công nghệ: Nhóm R&D tại các tòa soạn cần xây dựng các bộ sưu tập kết cấu và công cụ mẫu (templates) để phóng viên, biên tập viên có thể tự dàn trang và tái cấu trúc nội dung dễ dàng.
    2. Về dữ liệu: Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu nội dung lớn (Big Data) để lưu trữ và khai thác nguồn tài nguyên cho các đề tài quy mô lớn.
    3. Về nhân sự: Tuyển dụng nguồn nhân lực đa năng (phóng viên dữ liệu, kỹ sư đồ họa báo chí, lập trình viên giao diện người dùng).
    4. Về đào tạo: Đổi mới toàn diện mô thức đào tạo tại các cơ sở đào tạo báo chí, tích hợp kỹ năng tư duy đa phương tiện và kể chuyện bằng dữ liệu.
    5. Về trang thiết bị: Tăng cường đầu tư trang thiết bị công nghệ, phần mềm đồ họa và hệ thống quản trị nội dung (CMS) đáp ứng yêu cầu sản xuất nội dung số.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án là công trình khoa học đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu toàn diện và trực diện về GTT ĐPT trên báo mạng điện tử, góp phần bổ sung vào lý luận báo chí học khái niệm khoa học chuẩn xác về GTT ĐPT.
  • Xây dựng hệ thống phân loại GTT ĐPT trên cơ sở cấu trúc ngữ nghĩa và bản chất kỹ thuật (gồm 4 nhóm: Liên tục, Toàn diện, Nhập vai, Hỗn hợp), vượt qua các phân loại tuyến tính - phi tuyến tính đơn giản trước đây.
  • Vận dụng thành công mô hình "Các thứ bậc ảnh hưởng" (Shoemaker & Reese) và lý thuyết tính đa thức (Multimodality) để xác lập khung phân tích 5 nhóm yếu tố chi phối việc tổ chức sản xuất GTT ĐPT trên môi trường số.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bộ dữ liệu khảo sát định lượng đáng tin cậy về thực trạng sử dụng GTT ĐPT trên 3 tờ báo mạng điện tử hàng đầu (The New York Times, The Guardian, VnExpress) qua 3 năm (2014 – 2016).
  • Làm rõ sự khác biệt trong phương thức tổ chức GTT ĐPT giữa các chủ đề thời sự chính trị (hard news) và chủ đề thể thao, văn hóa, khoa học; chỉ ra khoảng cách thực tế giữa báo mạng điện tử Việt Nam và báo chí phương Tây.
  • Đưa ra 7 dự báo xu hướng vận động của báo chí đa phương tiện và đề xuất 5 nhóm khuyến nghị thực tiễn có giá trị ứng dụng cho các cơ quan báo chí và cơ sở đào tạo truyền thông tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Khảo sát dữ liệu giới hạn trong mốc thời gian 3 năm (từ 01/01/2014 đến 31/12/2016), chưa bao quát toàn bộ sự chuyển dịch công nghệ sau năm 2016 khi trí tuệ nhân tạo (AI) và các thiết bị di động chiếm ưu thế tuyệt đối.
  • Phạm vi khảo sát thực nghiệm tập trung vào 3 tờ báo cụ thể đại diện cho 3 quốc gia, chưa thể phản ánh đầy đủ bức tranh đa dạng của toàn bộ hệ thống báo điện tử Việt Nam và khu vực.
  • Số lượng mẫu phân tích định lượng chuyên sâu gồm 160 tác phẩm tập trung chủ yếu vào hai sự kiện trường hợp (Olympic Rio 2016 và Bầu cử Tổng thống Mỹ 2016).

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng khảo sát giai đoạn sau năm 2016 với các công nghệ báo chí mới nổi như báo chí tự động, báo chí dữ liệu thời gian thực và tương tác thực tế ảo tăng cường (AR/VR).
  • Nghiên cứu sâu về hành vi tiếp nhận, mức độ tương tác và sẵn sàng chi trả (willingness to pay) của công chúng độc giả đối với các gói tin tức đa phương tiện trên các nền tảng phân phối số.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Báo chí - Truyền thông: Khung lý luận ở Chương 1 và quy trình phân loại đa thức là nguồn tài liệu giảng dạy chuẩn mực về thể loại báo chí hiện đại và phương pháp sản xuất sản phẩm truyền thông số.
  • Đối với ban biên tập và lãnh đạo cơ quan báo chí: Các phát hiện về quy trình tổ chức tòa soạn, bài toán chi phí tài trợ và 5 nhóm khuyến nghị ở Chương 4 cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm longform, báo chí dữ liệu và mô hình thu phí người đọc.
  • Đối với phóng viên, biên tập viên, họa sĩ thiết kế đồ họa: Các phân tích trường hợp cụ thể ở Chương 2 và Chương 3 (về hiệu ứng cuộn trang, đồ họa frame-by-frame, sơ đồ tương tác) là hướng dẫn nghiệp vụ trực quan để nâng cao chất lượng tác phẩm.

Câu hỏi thường gặp

1. Gói tin tức đa phương tiện trên báo mạng điện tử được định nghĩa như thế nào trong luận án?

GTT ĐPT là một tác phẩm báo chí hoàn chỉnh, có dung lượng lớn, phản ánh một sự kiện hoặc chủ đề chuyên sâu bằng cách kết hợp hài hòa, phi dư thừa của ít nhất 6 thành tố truyền thông: văn bản, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, âm thanh, video và các chương trình tương tác, được phân phối trên nền tảng kỹ thuật số nhằm mang lại trải nghiệm tiếp nhận đa giác quan cho công chúng.

2. Luận án phân chia gói tin tức đa phương tiện thành những nhóm kết cấu nào?

Vượt qua cách phân loại nhị phân tuyến tính / phi tuyến tính truyền thống, luận án phân loại GTT ĐPT thành 4 nhóm kết cấu chính:

  1. Nhóm Liên tục (Continuous): Cấu trúc cuộn trang dọc liền mạch (scrollytelling).
  2. Nhóm Toàn diện (Comprehensive): Cấu trúc khung (shell) chứa nhiều thành phần liên kết độc lập.
  3. Nhóm Nhập vai (Immersive): Tích hợp công nghệ thực tế ảo, video $360^\circ$ và đồ họa 3D.
  4. Nhóm Hỗn hợp (Hybrid): Kết hợp giữa dòng tự sự cuộn trang và các mô-đun tra cứu dữ liệu tương tác.

3. Phương pháp phân tích nội dung trong luận án đạt độ tin cậy khoa học như thế nào?

Luận án tiến hành mã hóa mẫu nghiên cứu ngẫu nhiên hệ thống với bước nhảy $k = 3$ (chọn 20 bài/báo/năm trên 3 tờ báo, tổng cộng 160 bài). Quá trình mã hóa chéo giữa 2 người nghiên cứu độc lập trên 10,43% mẫu trùng lặp ($n = 16$) đạt mức độ thống nhất trung bình 93% và hệ số độ tin cậy Krippendorff's Alpha đạt 0,8245 (vượt ngưỡng tin cậy chuẩn trong nghiên cứu truyền thông).

4. Vì sao tác giả lựa chọn VnExpress, The New York Times và The Guardian trong giai đoạn 2014 – 2016?

Ba cơ quan báo chí này đại diện cho 3 nền báo chí lớn (Mỹ, Anh, Việt Nam) và đều là những đơn vị dẫn đầu về chuyển đổi số tại mỗi quốc gia. Giai đoạn 2014 – 2016 là thời điểm hình thức GTT ĐPT bùng nổ mạnh mẽ trên thế giới sau dấu mốc Snow Fall (2012) và bước đầu được thử nghiệm tại Việt Nam, đồng thời diễn ra hai sự kiện toàn cầu lớn (Olympic Rio 2016 và Bầu cử Tổng thống Mỹ 2016), tạo điều kiện lý tưởng để đối sánh thực nghiệm.

5. Những yếu tố nào chi phối xu hướng sản xuất gói tin tức đa phương tiện theo mô hình phân tích của luận án?

Dựa trên mô hình "Các thứ bậc ảnh hưởng" của Shoemaker & Reese, luận án chỉ rõ 5 yếu tố tác động: (1) Chính sách, quy hoạch báo chí quốc gia; (2) Tôn chỉ mục đích và tiềm lực tài chính tòa soạn; (3) Nền tảng phân phối và kênh phát hành; (4) Nhu cầu tiếp nhận cá thể hóa của công chúng; (5) Tiến bộ của công nghệ web và hạ tầng số.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Bích Ngọc là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về gói tin tức đa phương tiện trên báo mạng điện tử, kết hợp chặt chẽ giữa khung lý luận truyền thông hiện đại với phương pháp phân tích nội dung thực nghiệm. Thông qua việc khảo sát đối sánh giữa VnExpress, The New York Times và The Guardian giai đoạn 2014 – 2016, tác giả đã làm rõ bản chất thể loại, phân loại cấu trúc và các quy luật vận động của dòng sản phẩm báo chí số cao cấp này. Các phát hiện khoa học, dự báo xu hướng và hệ thống khuyến nghị trong luận án cung cấp cơ sở lý luận và giải pháp thực tiễn có giá trị cho tiến trình phát triển báo chí đa phương tiện tại Việt Nam.