Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRUYỀN THÔNG SỐ TRONG TRUYỀN THÔNG TUYỂN SINH 1. Những khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Khái niệm truyền thông Trong tiếng Anh, “communication” có nghĩa là truyền thông - sự truyền đạt, thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc; còn theo tiếng La tinh, có nghĩa là cộng đồng. Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đường, phương tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau giữa cá nhân và xã hội.
Cũng có thể hiểu truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức. Trong cuốn Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản có nêu, truyền thông là “quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm,. chia sẻ kỹ năng hoặc kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của nhóm, của cá nhân, của cộng đồng và xã hội. Theo Giáo sư Tạ Ngọc Tấn trong cuốn Truyền thông đại chúng [4], thì truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hoặc giữa các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau.
Về cơ bản, truyền thông là quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn ra đồng thời giữa chủ thể truyền thông và đối tượng truyền thông, qua đó có được hiểu biết và nhận thức đối với các vấn đề và sự vật có liên quan. Quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều ấy có thể được mô tả bằng nguyên lý bình thông nhau. Khi có sự khác biệt trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tượng truyền thông phù hợp với nội dung chia sẻ, trao đổi thì quá trình truyền thông diễn ra. Quá trình truyền thông vì thế sẽ chấm dứt khi đã có được sự thống nhất trong nhận thức, hành động giữa chủ thể và đối tượng truyền thông.
Về mục đích, truyền thông hướng đến những hiểu biết chung nhằm thay đổi thái độ, nhận thức, hành vi và tạo định hướng giá trị cho đối tượng truyền thông. Truyền thông được chia ra thành 3 phần khác nhau: hình thức, nội dung và mục tiêu. Hình thức truyền thông có thể được lựa chọn là trực tiếp hoặc gián tiếp, sao cho phù hợp với hoàn cảnh truyền thông. 5 Nội dung của truyền thông thường được biểu hiện qua hành động và lời nói, kinh nghiệm hay sự hiểu biết nhằm thay đổi nhận thức của người nghe.
Mục tiêu của việc truyền thông có thể được hướng đến cá nhân hoặc tổ chức, để tạo ra sự hiểu biết và thay đổi trong cộng đồng. Khái niệm truyền thông số Theo bài báo Một số kết quả phát triển truyền thông số ở Việt Nam đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Đảng bộ khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh: Truyền thông số là dạng phương tiện được mã hóa/số hóa ở định dạng máy có thể đọc được. Nội dung truyền thông số có thể được tạo lập, phân phối, xem và lưu trên các thiết bị kỹ thuật số. Một số phương tiện kỹ thuật số có thể kể đến, như: phần mềm, trang web tương tác, trò chơi điện tử, hình ảnh kỹ thuật số và sách điện tử.
nó được phân biệt với các phương tiện truyền thông truyền thống gồm sách in, báo, tạp chí và các phương tiện truyền thông tương tự. [5] Ngày nay, môi trường số đã trở thành một tầng không thể thiếu của mọi kênh truyền thông. Nhờ khả năng cho phép người dùng tự chọn cách thức tham gia trải nghiệm, cho phép những người tiếp thị kết nối các kênh truyền thông về một mối, thu thập phản hồi, lan truyền thông điệp và gây dựng mối quan hệ nhanh chóng, hiệu quả, truyền thông số đã trở thành phương tiện thiết yếu của mọi cơ quan, doanh nghiệp và cá nhân, điều mà các kênh truyền thông truyền thống không thực hiện được. Sản phẩm truyền thông số cũng có nhiều ưu điểm vượt trội hơn cả so với sản phẩm truyền thông truyền thống.
Nó cho phép người dùng trải nghiệm liên tục, mọi lúc, mọi nơi và tiếp nhận nhiều thông tin cùng một lúc. Ngôn ngữ của sản phẩm truyền thông số là ngôn ngữ truyền thông đa phương tiện với nhiều hình thức trực quan, bắt mắt, hấp dẫn, lôi cuốn như video, âm thanh, hình ảnh, đồ họa,. Sự tiện ích và khả năng hướng đến chính xác đối tượng mục tiêu, đo lường được nhu cầu, thói quen và hành vi của người dùng cũng là một điểm mạnh vượt trội của truyền thông số so với truyền thông truyền thống. Chính vì những khả năng vượt trội so với truyền thông truyền thống nên hiện nay, các cá nhân, doanh nghiệp, cơ quan đều cần đến truyền thông số, sử dụng truyền thông số trong các hoạt động của mình.
Khái niệm tuyển sinh Theo tiến sĩ Nguyễn Thu Quỳnh đã định nghĩa trong kết quả nghiên cứu Truyền thông marketing trong tuyển sinh đại học chính quy của các trường đại học Việt Nam 6 được đăng tải trên Tạp chí Công Thương: “tuyển sinh” là việc tổ chức lựa chọn người học vào một ngành học nào đó của cơ sở đào tạo căn cứ vào các quy định đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Tuyển sinh đại học chính quy là việc tuyển người học cho chương trình đào tạo hệ đại học chính quy, với đối tượng chủ yếu là học sinh lớp 12 sắp thi đại học hay thí sinh đã tốt nghiệp trung học phổ thông nhưng chưa có cơ hội học tập cao hơn và một phần nhỏ các đối tượng khác muốn nâng cao kiến thức chuyên môn. [6] Có thể hiểu tuyển sinh thực chất là việc tổ chức các hoạt động giới thiệu quảng bá, cung cấp thông tin để người học, người có nhu cầu đào tạo được lựa chọn và định hướng, tuyển chọn người học vào một ngành, nghề nào đó của cơ sở đào tạo dựa trên các quy định đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và công nhận. Đây là hoạt động quan trọng của mỗi cơ sở đào tạo, là nhiệm vụ chính liên quan và chi phối tất cả các hoạt động khác, đồng thời cũng là mục tiêu phát triển của mỗi cơ sở đào tạo.
Công tác tuyển sinh là khâu đầu tiên quyết định thành công của quá trình giáo dục, là cơ sở để thực hiện các hoạt động khác tiếp theo như giảng dạy, kiểm tra đánh giá chất lượng. Khái niệm truyền thông tuyển sinh Theo định nghĩa của tác giả Ngô Xuân Hiếu trong bài báo Nâng cao hiệu quả của hoạt động truyền thông tuyển sinh trực tuyến tại Trường Đại học Thủ đô Hà Nội đã đăng trên Tạp chí Khoa học Việt Nam số 47/2021: Bản chất của truyền thông tuyển sinh là quá trình cơ sở giáo dục đào tạo cung cấp, quảng bá, giới thiệu rộng rãi thông tin về cơ sở vật chất, đội ngũ nhân lực, các ngành nghề đào tạo, chất lượng đào tạo, các chính sách khuyến khích, đãi ngộ,. [5] Mục tiêu của truyền thông tuyển sinh là nhằm thu hút sự quan tâm và tìm kiếm ứng viên phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tuyển sinh và xây dựng hình ảnh tích cực của cơ sở đào tạo. Truyền thông tuyển sinh có thể bao gồm việc sử dụng các phương tiện truyền thông truyền thống như báo chí, truyền hình, đài phát thanh, tờ rơi, poster, biểu ngữ, quảng cáo trên các phương tiện truyền thông đại chúng, và cả truyền thông trực tuyến như website, mạng xã hội, email marketing, video trực tuyến và các công cụ truyền thông số khác.
Các hoạt động truyền thông tuyển sinh thường bao gồm việc tạo và phân phối nội dung tuyển sinh, tổ chức sự kiện tuyển sinh, tương tác với công chúng và tư vấn cho ứng viên. 7 Truyền thông tuyển sinh đóng vai trò quan trọng trong việc tạo dựng nhận thức và hiểu biết về các chương trình tuyển sinh, yêu cầu đăng ký và quy trình tuyển chọn. Nó giúp ứng viên tiềm năng nắm bắt thông tin cần thiết và quyết định liệu họ phù hợp với các tiêu chí tuyển sinh hay không. Đồng thời, truyền thông tuyển sinh cũng giúp các tổ chức tuyển sinh thu hút được ứng viên chất lượng và xây dựng niềm tin và uy tín trong quá trình tuyển chọn.
Mô hình truyền thông Có rất nhiều mô hình truyền thông, có thể kể đến như: Mô hình truyền thông Lasswell, (còn được gọi là mô hình 5W), Mô hình truyền thông Aristotle (còn được gọi là mô hình rhetorike),. Và đặc biệt không thể không kể đến mô hình truyền thông Shannon, đây cũng chính là mô hình truyền thông sẽ được ứng dụng để nghiên cứu trong bài nghiên cứu khoa học này. Mô hình truyền thông Shannon, còn được gọi là mô hình truyền thông thông tin, là một mô hình toán học được đề xuất bởi nhà toán học và kỹ sư điện tử Claude Shannon vào những năm 1940. Mô hình này tập trung vào quá trình truyền tải thông tin từ nguồn gốc đến đích thông qua một kênh truyền thông.
Hình 1: Mô hình truyền thông của Claude Shannon (nguồn: Internet) Mô hình truyền thông Shannon bao gồm các yếu tố sau: - Nguồn thông tin (Source): Đây là nguồn tạo ra thông tin cần truyền. Nó có thể là một người, một máy tính, một cảm biến, hoặc bất kỳ nguồn thông tin nào khác. - Thông điệp (Message): Thông điệp bao gồm ký hiệu, mã số, tín hiệu,… được trình bày bằng ngôn ngữ mà người gửi và người nhận đều hiểu được. Đó có thể là ngôn ngữ giao tiếp, văn học, khoa học kỹ thuật,… - Kênh truyền thông (Communication Channel): Kênh truyền thông là phương 8 tiện vật lý hoặc không gian mà thông tin được truyền tải qua đó.
Ví dụ về kênh truyền thông bao gồm cáp viễn thông, sóng điện từ, công nghệ mạng, và nhiều hình thức truyền thông khác. - Người nhận (Receiver): Người nhận là đích cuối cùng của quá trình truyền thông. Người nhận nhận thông tin từ kênh truyền và sử dụng nó để hiểu, xử lý hoặc đưa ra phản hồi. - Hiệu quả (Effect): Thể hiện thay đổi hành vi ra sao? Thông tin được phản hồi như thế nào? - Nhiễu (Noise): Nhiễu là các yếu tố không mong muốn hoặc biến đổi thông tin trong quá trình truyền tải.
Nó có thể gây ra sự mất mát, biến dạng hoặc sai sót trong thông tin. - Phản hồi (Feedback): được hiểu là sự tác động quay lại của người tiếp nhận với người truyền tin. Phản hồi là yếu tố cần thiết để quá trình truyền thông được diễn ra liên tục và mang lại hiệu quả cao. Nếu không có phản hồi, thông tin chỉ mang tính một chiều.