CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO PHÁ SẢN VÀ DỰ BÁO RỦI RO PHÁ SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Rủi ro phá sản của doanh nghiệp 1. Phá sản và rủi ro phá sản của doanh nghiệp Phá sản là tình trạng doanh nghiệp lâm vào khó khăn tài chính khi tài sản không còn đủ để đảm bảo thanh toán các khoản nợ. Phá sản thường xuất hiện khi thất bại liên tiếp trong kinh doanh, kinh doanh thua lỗ, phải bán hết tài sản mà vẫn không đủ để trả nợ.
Như vậy trong cách hiểu thông thường, khái niệm phá sản dùng để chỉ sự việc thua lỗ nặng nề của một doanh nghiệp trong kinh doanh khiến doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ. Ở mỗi quốc gia, các quy định về phá sản DN sẽ có những điểm khác nhau. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, luật về các công ty được xác định là phá sản có hai chương là thanh lý trong chương 7 và tái tổ chức trong chương 11. Tại Nhật Bản, có ba luật cơ bản xếp những công ty lớn phá sản: Luật phục hồi công dân, Luật tái tổ chức DN và Luật đóng cửa DN (Xu và Zhang, 2008).
Theo điều 4, Luật phá sản Việt Nam năm 2014: “Phá sản là tình trạng của DN, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”. Khi một DN được coi là mất khả năng thanh toán, nó thường dựa trên các khoản nợ tồn đọng (dòng tiền) hoặc tổng nợ phải trả vượt quá TS. Như vậy, phá sản DN là tình trạng mà một công ty hay xí nghiệp khó khăn về tài chính, bị thua lỗ hoặc thanh lý xí nghiệp không đảm bảo đủ thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn. Khi đó tòa án hay một cơ quan tài phán có thẩm quyền sẽ tuyên bố công ty hay xí nghiệp đó bị phá sản.
Rủi ro phá sản là rủi ro gắn liền với khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, hay là rủi ro mà tại một thời điểm nào đó tài sản hiện có của doanh nghiệp không đáp ứng được việc thanh toán nợ ngắn hạn. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp tài trợ vốn bằng vay nợ có rủi ro phá sản ở mức cao. Việc mắc nợ kéo theo các khoản chi trả cố định như: khoản nợ gốc và lãi. Rủi ro mất mát khả năng thanh toán nếu quá lớn sẽ làm cho doanh nghiệp có nguy cơ phá sản.
Các dấu hiệu về rủi ro phá sản của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, phá sản là một hiện tượng tất yếu và bình thường của nền kinh tế thị trường, trong quá trình cạnh tranh khốc liệt, trong quá trình kinh doanh các chủ thể có thể gặp phải bất kể rủi ro nào. Phá sản là tình huống không mong muốn đối với các DN, vì vậy việc sớm nhận diện RRPS có những biện pháp để ứng phó và kịp thời là một điều vô cùng quan trọng. Nguy cơ phá sản của DN thường được thể hiện qua một số dấu hiệu dưới đây: 15 1. Duy trì hệ số nợ ở mức cao và gia tăng trong thời gian dài Nhìn chung, hệ số nợ của các DN có nguy cơ phá sản đều ở mức cao.
Một số nghiên cứu trên các DN niêm yết cho thấy càng về gần thời điểm bị hủy niêm yết hệ số nợ của các DN có rủi ro phá sản ngày càng gia tăng trong khi mức độ sử dụng nợ của nhóm DN không có rủi ro phá sản có xu hướng ngược lại. Điều này cho thấy, càng về gần thời điểm hủy niêm yết, tiềm lực tự chủ tài chính của các DN càng suy yếu, DN có nguy cơ phá sản càng phụ thuộc vào nguồn nợ để đáp ứng nhu cầu về vốn kinh doanh trong bối cảnh vốn bị chiếm dụng và hàng tồn kho ở mức cao, rủi ro mất khả năng thanh toán ngày càng gia tăng, luôn tiềm ẩn rủi ro phá sản. Về cơ cấu nợ, nhìn chung các doanh nghiệp có nguy cơ phá sản đều có tỷ lệ nợ ngắn hạn/tổng tài sản ở mức cao và chiếm phần lớn cơ cấu nợ phải trả. Việc sử dụng nợ, mà chủ yếu là nợ ngắn hạn gây ra áp lực thanh toán khá lớn đối với các doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh các khoản phải thu và hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản ngắn hạn.Như vậy, việc sử dụng nợ với mức độ cao, đặc biệt là nợ ngắn hạn cho thấy các DN còn hạn chế về năng lực tự chủ tài chính, dẫn đến dễ bị tác động bởi các nguyên nhân bên ngoài như suy thoái kinh tế, biến động lãi suất.
Ngược lại, nhóm DN không có nguy cơ phá sản có sự kiểm soát tốt hơn về sử dụng nợ trong tổ chức nguồn vốn, ngược lại DN có rủi ro phá sản khi càng về cuối giai đoạn, hệ số nợ càng tăng mạnh, trong đó chủ yếu là nợ ngắn hạn. Nguồn vốn lưu động thường xuyên ở mức thấp Vốn lưu động thuần hay vốn lưu động thường xuyên (NWC) là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn. NWC nhóm DN có nguy cơ phá sản ở mức dưới 0, còn NWC của nhóm không có nguy cơ mặc dù diễn biến giảm nhưng vẫn ở mức lớn hơn 0. Trong giai đoạn NWC của các nhóm đều dương (lớn hơn 0), khoảng cách giữa NWC của nhóm DN có nguy cơ phá sản và nhóm không có nguy cơ khá cao.
Điều này cho thấy, khả năng tài trợ cho tài sản ngắn hạn từ nguồn vốn dài hạn của nhóm DN không có nguy cơ phá sản là mạnh hơn so với nhóm có nguy cơ phá sản. Các DN có nguy cơ phá sản có chính sách tài trợ rủi ro hơn, khi mà tài sản ngắn hạn không còn đảm bảo được toàn bộ nguồn vốn ngắn hạn, thậm chí một phần nguồn vốn ngắn hạn còn dùng để tài trợ tài sản dài hạn, dẫn đến mất cân bằng tài chính. Hệ số khả năng thanh toán hiện hành và lãi vay ở mức thấp Khả năng thanh toán hiện hành của doanh nghiệp được hiểu là mối quan hệ tỷ lệ giữa toàn bộ tài sản có thời gian chu chuyển ngắn của doanh nghiệp với nợ ngắn hạn. Hệ số này cho biết cứ với một đồng nợ ngắn hạn thì có bao nhiêu đồng tài sản lưu động đảm bảo chi trả.
Nếu tỷ số này càng lớn hơn 1 thể hiện doanh nghiệp có càng nhiều khả năng thanh toán tốt nghĩa vụ nợ. Và ngược lại nếu tỷ số này nhỏ hơn 1 muốn ám chỉ rằng doanh nghiệp sẽ không đủ khả năng để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. 16 Khả năng thanh toán lãi vay cho biết lợ i nhuậ n trướ c lã i vay và thuế củ a DN có khả nă ng chi trả đượ c bao nhiêu lầ n chi phí lã i vay. Hệ số này đồ ng thờ i cũ ng phả n á nh mứ c độ rủ i ro có thể gặ p phả i đố i vớ i cá c chủ nợ.
Mộ t doanh nghiệp vay nợ nhiều nhưng kinh doanh khô ng tố t, mứ c sinh lờ i củ a đồ ng vố n quá thấ p hoặ c bị thua lỗ thì khó có thể đả m bả o thanh toá n tiền lã i vay đú ng hạ n. Chỉ tiêu nà y nhỏ hơn 1 cho thấ y HĐKD yếu kém, thua lỗ , khô ng trả đượ c lã i vay vì thu nhậ p trong kỳ khô ng bù đắ p đượ c chi phí. Nếu tình trạ ng này nếu kéo dà i thì sẽ dẫ n đến rủ i ro phá sả n. Chỉ tiêu nà y cà ng lớ n thì chứ ng tỏ HĐKD cà ng hiệu quả , mứ c sinh lờ i cà ng cao, là cơ sở đả m bả o cho tình hình thanh toá n củ a DN là nh mạ nh.
Vòng quay tổng tài sản và khả năng sinh lời ở mức thấp Vòng quay tổng tài sản nhóm DN có rủi ro phá sản sẽ có xu hướng giảm mạnh, cho thấy càng về gần năm huỷ niêm yết, hiệu suất sử dụng tổng tài sản của nhóm doanh nghiệp có rủi ro phá sản càng sụt giảm. Trong khi đó, đối với nhóm doanh nghiệp không có rủi ro, dù có những biến động tăng, giảm nhất định nhưng cơ bản vòng quay tổng tài sản của các doanh nghiệp khá ổn định và cao hơn so với nhóm doanh nghiệp có rủi ro phá sản. Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh ROA là hệ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một cộng ty so với tài sản của nó. ROA sẽ cho ta biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời.
Do đó, khi ROA âm tức là doanh thu không đủ bù đắp chi phí, DN đang làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ và chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và khi đó nguy cơ phá sản sẽ tăng lên. Trong khi đó, tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu ROE giúp đánh giá tổng hợp khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu. Một số nghiên cứu trước đây đã chỉ ra, nhóm doanh nghiệp có nguy cơ phá sản thua lỗ liên tiếp trước khi huỷ niêm yết, dẫn đến ROA trong giai đoạn này luôn ở mức âm. ROE của nhóm doanh nghiệp có rủi ro phá sản phần lớn cho kết quả ROE âm (nhỏ hơn 0).
Đây là một điểm khác biệt lớn giữa ROE của nhóm doanh nghiệp có rủi ro phá sản và không phá sản, dù ROE ở mức thấp nhưng nhóm doanh nghiệp không có rủi ro phá sản vẫn ở mức trên 0%, còn nhóm có rủi ro phá sản lại biến động giảm xuống dưới 0%. Từ đó cho thấy, việc sử dụng vốn kém hiệu quả trong các DN có rủi ro phá sản. Hoạt động kinh doanh thua lỗ liên tục làm thu hẹp quy mô, từ đó khiến rủi ro phá sản hiện hữu rõ nét hơn bao giờ hết ở các doanh nghiệp thuộc nhóm doanh nghiệp có rủi ro phá sản. Vốn hoạt động thuần âm và giá trị vốn hóa thị trường nhỏ hơn tổng nợ phải trả Giá trị vốn hóa thị trường đại diện cho khả năng huy động vốn của công ty trên thị trường chứng khoán, là yếu tố quan trọng phản ánh giá trị của các TS cơ sở của DN.
Do đó, khi cổ phiếu của một công ty được các nhà đầu tư kỳ vọng sẽ tăng giá, thì cổ phiếu đó sẽ tăng giá, và thường thì tính thanh khoản của cổ phiếu đó cũng sẽ tăng lên.