ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): “Thế kỷ 21 là thế kỷ của các bệnh nội tiết và các rối loạn chuyển hóa, điển hình là đái tháo đường” [1]. Thống kê của Liên đoàn đái tháo đường thế giới (IDF) cho thấy, năm 2021 toàn cầu có 537 triệu người (trong độ tuổi 20 - 79) sống chung với bệnh tiểu đường, cứ 4 người trưởng thành sẽ có 3 người mắc bệnh, dự kiến con số này sẽ ở mức 643 triệu người vào năm 2030 và 783 triệu người vào năm 2045 [61]. Đái tháo đường (ĐTĐ) tại Việt Nam không phải một vấn đề mới, nhưng vẫn là một thách thức lớn. Năm 2014, theo ước tính của IDF, Việt Nam là quốc gia có số người mắc ĐTĐ nhiều nhất tại Đông Nam Á với 3,299 triệu người từ 20 đến 79 tuổi [61].
Năm 2019, Việt Nam có 6% dân số (gần 5,8 triệu người trưởng thành) mắc ĐTĐ [4]. Ở ĐTĐ type 1, nguyên nhân do sự tổn thương tế bào β tuyến tụy, làm giảm sản xuất insulin, ở ĐTĐ type 2, nhận thấy có sự đề kháng hormon này. Đề kháng insulin cũng được xác định là căn nguyên của hội chứng chuyển hóa (HCCH) - tập hợp một nhóm các triệu chứng thừa cân béo phì, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp (THA), rối loạn dung nạp glucose [39]. Do đó, tỉ lệ mắc hội chứng này khá cao trên bệnh nhân ĐTĐ type 2.
HCCH ngày càng phổ biến, xảy ra trên 20 - 25% dân số toàn cầu [34]. Năm 2020, theo báo cáo của Adrienne Youdim và cộng sự thuộc trường đại học Carlifonia, HCCH là một vấn đề nghiêm trọng và phổ biến ở Hoa Kì, chiếm trên 40% tổng dân số [64]. Hiện HCCH chưa được nghiên cứu quy mô rộng rãi toàn Việt Nam, chưa có số liệu thống kê cụ thể số lượng bệnh nhân mắc hội chứng này trên cả nước, nhưng các nghiên cứu tại một số nơi cho thấy HCCH ở nước ta nói chung và HCCH ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 nói riêng có hướng gia tăng trong thập niên gần đây [7], [9], [13], 18], [46]. HCCH được xác định là yếu tố nguy cơ (YTNC) độc lập của hai đại dịch lớn là bệnh tim mạch và bệnh ĐTĐ.
Những người mắc HCCH có khả năng phát triển thành bệnh tim mạch khoảng 2 lần, nguy cơ ĐTĐ type 2 cao hơn khoảng 5 lần so với người không mắc hội chứng này [21]. ĐTĐ type 2 chính nó đã đi kèm sự gia tăng nguy cơ mắc và tử vong do bệnh tim mạch nhưng mức độ thấp hơn so với khi có HCCH đi kèm [9], [22]. Bệnh nhân mắc HCCH sẽ còn xuất hiện các biến chứng khác như gan nhiễm mỡ, hội chứng buồng trứng đa nang - PCOS, hội chứng Cushing, 2 tăng acid uric máu, rối loạn vận mạch và yếu tố tăng đông… Nan giải hơn khi bản thân ĐTĐ đã gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm, là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tim mạch, mù lòa, suy thận, và cắt cụt chi. Theo Cục Quản lý khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), ĐTĐ là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 3 trong các loại bệnh tật tại Việt Nam, sau bệnh lý tim mạch và ung thư.
HCCH ở người bệnh ĐTĐ type 2 càng làm tăng mức độ trầm trọng về sức khỏe và khó điều trị. Tỉ suất bệnh sẽ thay đổi theo từng chủng tộc và vùng địa lý, cũng như chịu tác động bởi các yếu tố liên quan khác như chế độ ăn, sinh hoạt, mức sống, điều kiện khám chữa bệnh,…Tại Bệnh viện trường đại học Trà Vinh thuộc địa bàn tỉnh Trà Vinh, số lượng bệnh nhân ĐTĐ đến điều trị ngày một tăng, nhiều nghiên cứu trên bệnh nhân ĐTĐ đã được tiến hành nhưng chưa có nghiên cứu nào về HCCH ở nhóm đối tượng có nguy cơ cao này. Từ những vấn đề cấp thiết trên, việc thực hiện khóa luận tên “Khảo sát tỉ lệ hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 đang điều trị tại Bệnh viện trường đại học Trà Vinh” nhằm thực hiện được những mục tiêu sau: 1. Xác định tỉ lệ bệnh nhân ĐTĐ type 2 có HCCH đang điều trị tại bệnh viện trường đại học Trà Vinh.
Mô tả đặc điểm các thành tố của hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân ĐTĐ type 2. Khảo sát một số yếu tố liên quan đến HCCH ở bệnh nhân ĐTĐ type 2: tuổi, giới tính, nơi sống, trình độ học vấn, mức hoạt động thể lực, stress, hút thuốc lá, lạm dụng rượu bia, sử dụng dầu mỡ. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh đái tháo đường 1.
Định nghĩa, phân loại đái tháo đường ĐTĐ là bệnh rối loạn chuyển hóa đặc trưng với biểu hiện lượng glucose trong máu luôn ở mức cao hơn so với bình thường, do cơ thể thiếu hụt insulin hoặc đề kháng với insulin hoặc cả 2, dẫn đến rối loạn quan trọng về chuyển hóa đường, đạm, mỡ, chất khoáng. Bệnh ĐTĐ có 2 thể chính: - ĐTĐ type 1: tế bào beta tuyến tụy bị phá hủy gây giảm hoặc không tiết ra insulin. - ĐTĐ type 2: trước kia được gọi là bệnh tiểu đường của người lớn tuổi hay tiểu đường không phụ thuộc vào insulin, là thể bệnh phổ biến nhất (90 - 95%), gặp nhiều ở người trên 40 tuổi và có xu hướng dần trẻ hóa [4]. Ở thể bệnh này, insulin do tuyến tụy tiết ra mặc dù đạt số lượng như người bình thường nhưng lại giảm hoặc không có vai trò điều hòa lượng đường trong máu trên nền tảng đề kháng insulin, một số trường hợp ghi nhận bệnh có di truyền.
Như vậy, insulin không thể thực hiện được vai trò vốn có của nó. Các triệu chứng tiến triển âm thầm và phát triển trong nhiều năm và có thể vô tình được phát hiện qua xét nghiệm đường huyết hoặc có những biến chứng như vết thương nhiễm trùng lâu lành. Tình trạng thừa cân béo phì cũng có liên hệ chặt chẽ với ĐTĐ type 2 và cả HCCH, nên hai bệnh tuy độc lập nhưng có khả năng đi kèm nhau rất cao [4], [59]. Ngoài hai thể chính trên, còn có : - ĐTĐ thai kỳ.
- Các loại ĐTĐ đặc biệt như ĐTĐ sơ sinh, ĐTĐ do sử dụng thuốc và hoá chất như sử dụng glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS, sau cấy ghép mô. Tiền tiểu đường là một dạng rối loạn chuyển hóa đường khi đói hoặc rối loạn dung nạp đường khiến chỉ số đường huyết tăng cao nhưng chưa vượt ngưỡng để chẩn đoán là bệnh tiểu đường. Tiền tiểu đường là giai đoạn trung gian giữa người bình thường và ĐTĐ type 2. Khoảng 70% người tiền tiểu đường sẽ thành tiểu đường thực sự, có nguy cơ dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm nếu người bệnh không kiểm soát tốt lượng đường máu [51].
Biến chứng của đái tháo đường Kiểm soát đường huyết tích cực có thể phòng tránh hoặc làm chậm nhiều biến chứng nhưng không thể đảo ngược một khi biến chứng đã hình thành. _____________________________________________________________________________________________________ GVHD: ThS Nguyễn Thị Kim Vân SVTH: Nguyễn Tam Anh 4 Bệnh vi mạch nhấn mạnh 3 tổn thương phổ biến: bệnh võng mạc do ĐTĐ, bệnh thận do ĐTĐ, bệnh lý thần kinh [59]. Bệnh mạch máu lớn: cơ chế bệnh học chính là quá trình xơ vữa động mạch (XVĐM), đi kèm một số biến chứng sau: đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim, thiếu máu não thoáng qua và đột quị, bệnh động mạch ngoại biên [57]. XVĐM là do viêm mạn tính và tổn thương thành động mạch ở hệ thống mạch ngoại vi và mạch vành.
Lipid máu dư thừa, tăng các lipoprotein LDL-C đã bị biến đổi (bị oxy hóa, acetyl hóa, glycosyl hóa.) đọng lại trong lớp nội mạc mạch máu dẫn đến tổn thương nội mạch và viêm. Angiotensin II có thể xúc tiến quá trình oxy hóa các phân tử này. Đại thực bào thâm nhiễm vào thành động mạch, thực bào các phân tử LDL-C đã bị biến đổi sau thời gian lâu tồn tại trong huyết tương, thành dạng những tế bào bọt (là xác đại thực bào chứa đầy LDL-C). Các tế bào bọt kích thích sự tăng nhanh đại thực bào và thu hút tế bào lympho T.
Theo thời gian, mạch máu tổn thương dần rách lớp nội mạc. Khi đó, tiểu cầu tự dính lại vùng tổn thương ấy, tạo thành cục máu đông, đồng thời phóng thích yếu tố tăng trưởng của tiểu cầu, thu hút sự di chuyển tế bào cơ trơn từ lớp giữa vào lớp niêm mạc của thành động mạch và nhân lên ở đó, tăng thành phần của mô liên kết (collagen). Cơ trơn kết tụ calci vào mảng xơ vữa, hình thành những tinh thể cacli, làm cứng các thành động mạch. Kết quả của quá trình là tạo nên tổn thương xơ vữa giàu lipid, khi vỡ tổn thương này có thể dẫn đến nhồi máu cấp [8], [52], [57].
Ngoài ra còn có rối loạn chức năng miễn dịch như dễ bị nhiễm khuẩn, nhiễm nấm (như nhiễm trùng bàn chân, thường trầm trọng hơn do giảm tưới máu chi dưới, có nguy cơ cắt cụt chi), nguy cơ cao phát triển một số bệnh cơ xương khớp, bệnh gan nhiễm mỡ, bệnh ngoài da. Trầm cảm và sa sút trí tuệ cũng thường gặp [59]. Hội chứng chuyển hóa 1. Định nghĩa HCCH là một tập hợp những YTNC của nhóm bệnh về tim mạch và ĐTĐ type 2, thường đi kèm với nhau hơn là xuất hiện riêng lẻ [40].
Các YTNC bao gồm THA, rối loạn lipid máu (tăng triglycerid (TG) và giảm HDL-C), tăng đường huyết, béo phì trung tâm và đề kháng insulin. Sau này các bất thường chuyển hóa khác được qui cho là HCCH như albumin niệu vi thể (microalbuminuria), tăng acid uric máu, tăng các yếu tố viêm và tiền huyết khối… [9], [38]. _____________________________________________________________________________________________________ GVHD: ThS Nguyễn Thị Kim Vân SVTH: Nguyễn Tam Anh 5 HCCH không phải vấn đề mới, những hiểu biết về HCCH đã được đề cập từ lâu. Từ năm 1943 - 1947, Vague đã lưu ý chứng béo phì ở phần trên cơ thể (béo phì dạng nam) - là loại béo phì thường kết hợp với những bất thường về chuyển hóa liên quan đến ĐTĐ type 2 và bệnh tim mạch - và chia béo phì ra làm hai loại, béo “Gynoid” - đặc trưng bởi sự tập trung của mô mỡ ở quanh đùi và mông, béo “Androi” - đặc trưng bởi sự tập trung của mô mỡ ở bụng, có liên quan nhiều đến kháng insulin.
Năm 1988, Gerald Reaven mô tả “Hội chứng X” bao gồm một nhóm các YTNC của bệnh lý mạch vành như THA, tăng glucose máu, tăng TG máu và hạ HDL-C máu. Reaven cũng đưa ra giả thuyết coi kháng insulin có vai trò trung tâm trong cơ chế bệnh sinh của “Hội chứng X”. Năm 1998, lần đầu tiên WHO đã đưa ra định nghĩa chính thức về HCCH bởi một nhóm tham vấn, nhấn mạnh đề kháng insulin là YTNC chính [9], [22].