Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sự xâm lấn của các loài sinh vật ngoại lai là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây suy giảm đa dạng sinh học và làm mất cân bằng các hệ sinh thái tự nhiên. Theo các tài liệu tổng kết quốc tế được trích dẫn trong công trình, sinh vật ngoại lai xâm hại đã góp phần làm tuyệt chủng 39% số loài sinh vật kể từ năm 1600, phá hủy 36% các hệ sinh thái tự nhiên và chiếm tới 50% nguyên nhân dẫn đến sự tuyệt chủng của các loài cá nước ngọt trên toàn cầu. Tại Việt Nam, theo công bố năm 2005 của Bộ Thủy sản, trong số 41 loài thủy sinh vật nhập nội đã có 6 loài cá được xếp vào nhóm ngoại lai gây xâm hại nghiêm trọng gồm: cá Ăn muỗi (Gambusia affinis), cá Hổ (Pygocentrus nattereri), cá Tỳ bà (Hypostomus punctatus), cá Tỳ bà lớn (Pterygoplichthys pardalis), cá Vược miệng bé (Micropterus dolomieu) và cá Vược miệng rộng (Micropterus salmoides).
Trước thực trạng đó, Luật Đa dạng sinh học năm 2008 đã quy định rõ trách nhiệm kiểm soát và bảo tồn hệ sinh thái bản địa trước sự phát triển của sinh vật ngoại lai. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu ngư loại học tại Việt Nam từ trước đến nay chủ yếu tập trung tại khu vực miền Bắc, miền Nam và Tây Nguyên, trong khi khu vực miền Trung còn nhiều khoảng trống dữ liệu. Tại thành phố Đà Nẵng, ngoại trừ một số khảo sát sơ bộ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà – Núi Chúa và một vài nhánh thuộc sông Hàn, hầu hết các hệ sinh thái sông, hồ nước ngọt khác chưa có công bố khoa học đồng bộ và có hệ thống. Do đó, khóa luận "Nghiên cứu thành phần loài cá trong một số hệ sinh thái sông, hồ TP Đà Nẵng" được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng về đa dạng thành phần loài và đánh giá mức độ xâm nhập của các loài cá ngoại lai tại các thủy vực này.
Mục tiêu chung của đề tài là xác định thành phần loài cá và đánh giá hiện trạng xâm nhập của các loài cá ngoại lai trong một số hệ sinh thái sông, hồ tại thành phố Đà Nẵng. Để đạt được mục tiêu này, tác giả xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Điều tra thành phần loài cá bằng phương pháp tham vấn cộng đồng ngư dân và khảo sát thị trường thủy sản địa phương.
- Thu thập trực tiếp mẫu vật các loài cá ngoại lai tại các điểm nghiên cứu.
- Định loại hình thái học các loài cá ngoại lai theo các khóa phân loại chuyên ngành.
- Lập danh mục và phân tích cấu trúc thành phần loài cá tại từng hệ sinh thái thủy vực.
- Đánh giá mức độ xâm nhập và đặc điểm sinh khối của các loài cá ngoại lai tại các khu hệ nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ thành phần loài cá hiện diện, đặc biệt tập trung vào các loài cá ngoại lai tại các thủy vực nước ngọt. Phạm vi không gian nghiên cứu gồm 7 khu hệ sinh thái thủy vực trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, bao gồm 4 hệ sinh thái sông (sông Hàn, sông Cẩm Lệ, sông Vĩnh Điện, sông Cu Đê) và 3 hệ sinh thái hồ (hồ Đồng Xanh – Đồng Nghệ, hồ Trước Đông, hồ Bàu Tràm). Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa và thu thập số liệu được tiến hành từ tháng 11/2017 đến tháng 03/2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng khung pháp lý và các quy chuẩn phân loại học hiện hành, bao gồm định nghĩa loài ngoại lai xâm hại theo Luật Đa dạng sinh học năm 2008 và danh mục loài ngoại lai theo Thông tư liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Về mặt phân loại học ngư loại, đề tài áp dụng hệ thống phân loại của T. Lindberg (1971), L.S. Berg, khóa định loại của Vương Dĩ Khang (1958) trong "Ngư loại phân loại học" và tài liệu "Cá nước ngọt Việt Nam" (Tập 1 và Tập 2) của Nguyễn Văn Hảo (2001 - 2005), kết hợp đối chiếu hệ thống dữ liệu quốc tế FishBase.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai kết hợp giữa điều tra thực địa, tham vấn xã hội học và giải phẫu phân loại trong phòng thí nghiệm:
- Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa: Thu mẫu trực tiếp từ các mẻ khai thác của ngư dân đánh bắt thủy sản tại 7 khu vực nghiên cứu. Đối với các loài cá ít gặp, tác giả gửi dụng cụ nhờ ngư dân thu hộ. Mẫu vật thu được được gắn etyket ghi rõ thời gian, tọa độ thu mẫu và chụp ảnh tư liệu. Tại hiện trường, mẫu cá ngoại lai được đếm số lượng và cân khối lượng tươi để xác định sinh khối trong một lần đánh bắt, sau đó cố định ban đầu trong dung dịch formol 12%.
- Phương pháp tham vấn cộng đồng: Tiến hành phỏng vấn sâu trực tiếp 3 ngư dân có hoạt động đánh bắt thường xuyên tại mỗi khu vực (tổng cộng 21 ngư dân tại 7 thủy vực) bằng phiếu điều tra và ghi nhận vào sổ tay về thành phần loài, tần suất xuất hiện và biến động sản lượng. Ngoài ra, tác giả tiến hành khảo sát đối chứng thành phần loài tại các chợ cá dân sinh lân cận các điểm thu mẫu.
- Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm: Mẫu vật sau khi đưa về phòng thí nghiệm được xử lý, giải phẫu kiểm tra các chỉ tiêu hình thái (số lượng tia vây, dạng gai cứng, cấu trúc mấu xương chẩm, vảy, màu sắc) và định loại theo các khóa phân loại chuyên ngành. Sau khi định loại, mẫu được bảo quản trong dung dịch formol 4% và lưu giữ tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Sinh thái học, Khoa Sinh - Môi trường, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng.
- Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ số liệu về số lượng loài, giống, họ, bộ, tỷ lệ phần trăm phân loại học và số liệu sinh khối được tính toán và thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng hợp các yếu tố tự nhiên của khu vực nghiên cứu và lịch sử nghiên cứu ngư loại học trong nước và quốc tế. Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên 1.256,24 km² (đất liền 951,2 km²), nằm ở tọa độ 15˚55' đến 16˚14' vĩ độ Bắc và 107˚18' đến 108˚20' kinh độ Đông. Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam; nhiệt độ trung bình năm đạt 25,9°C (tháng 6-8 nóng nhất đạt 28-30°C, tháng 12-2 lạnh nhất đạt 18-20°C); lượng mưa trung bình năm 2.201 mm (mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 chiếm 65-80% tổng lượng mưa cả năm, cao nhất vào tháng 10-11 đạt 550-1.000 mm/tháng); độ ẩm trung bình 83,4%; tổng số giờ nắng trung bình 2.156,2 giờ/năm.
Về thủy văn, mạng lưới sông ngòi gồm hệ thống sông Vu Gia (diện tích lưu vực ~160 km², sông Hàn là hợp lưu của sông Cẩm Lệ và sông Vĩnh Điện), sông Cu Đê và sông Phú Lộc. Chuẩn dòng chảy đo tại trạm Thành Mỹ (sông Vu Gia) giai đoạn 1976-2010 ghi nhận diện tích lưu vực 1.850 km², lưu lượng $Q_0 = 132 \text{ m}^3/\text{s}$, môđun dòng chảy $M_0 = 71,4 \text{ l/s}\cdot\text{km}^2$. Mùa lũ diễn ra từ tháng 10 đến tháng 12 (chiếm 65-75% dòng chảy năm); mùa cạn từ tháng 1 đến tháng 9 (dòng chảy tháng nhỏ nhất chỉ chiếm 1-3% lượng nước năm). Vùng cửa sông chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều với biên độ triều cực đại 1,5 m, trung bình 0,8 - 1,2 m.
Lịch sử nghiên cứu ngư loại học được tác giả phân chia có hệ thống:
- Trên thế giới: Trải qua 3 giai đoạn (Thời kỳ thứ nhất từ Aristotle với 115 loài đến thế kỷ XVI; Thời kỳ thứ hai thế kỷ XVII - XIX với Artedi, Linnaeus, Valenciennes, Bleeker, Günther; Thời kỳ thứ ba từ thế kỷ XX đến nay với Berg, Matsubara, Nelson, Pauly, Vương Dĩ Khang, Lindberg, Kottelat và cơ sở dữ liệu FishBase).
- Tại Việt Nam: Trải qua 3 giai đoạn (Trước 1954 chủ yếu do các tác giả Pháp như Sauvage, Tirant, Chevey; Giai đoạn 1954-1975 với Đào Văn Tiến, Mai Đình Yên, Đặng Ngọc Thanh; Giai đoạn 1975 đến nay với các công trình điều tra quy mô lớn của Mai Đình Yên, Nguyễn Thái Tự, Võ Văn Phú và Bộ Thủy sản năm 1996 ghi nhận 544 loài cá nước ngọt thuộc 57 họ và 18 bộ).
- Tại miền Trung và Đà Nẵng: Các công trình của Nguyễn Hữu Dực và Mai Đình Yên (1995 ghi nhận 134 loài cá nước ngọt Nam Trung Bộ), Võ Văn Phú (đầm phá Thừa Thiên Huế), Vũ Thị Phương Anh (hồ Phú Ninh ghi nhận 71 loài), và khảo sát của Nguyễn Xuân Huấn cùng cộng sự tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà – Núi Chúa (ghi nhận 78 loài và phân loài thuộc 55 giống, 16 họ và 9 bộ).
Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết về tọa độ địa lý của 7 địa điểm nghiên cứu (Sông Cẩm Lệ: 108˚12'07.41''Đ; Sông Vĩnh Điện: 108˚14'33.62''Đ; Hồ Đồng Xanh – Đồng Nghệ: 108˚04'13.65''Đ; Hồ Trước Đông: 108˚09'73.02''Đ; Hồ Bàu Tràm: 108˚13'35''Đ cùng các điểm trên sông Hàn và sông Cu Đê). Chương này chuẩn hóa quy trình 4 bước nghiên cứu gồm điều tra thực địa, tham vấn ngư dân, giải phẫu định loại tại phòng thí nghiệm và xử lý dữ liệu sinh khối.
Chương 3: Kết quả và biện luận
Chương 3 trình bày các phát hiện thực chứng về danh mục thành phần loài, cấu trúc phân loại học và mức độ xâm nhập của các loài cá ngoại lai:
1. Danh mục và cấu trúc thành phần loài cá:
Tổng hợp từ 7 khu hệ thủy vực đã xác định được danh mục gồm 61 loài cá. Cấu trúc thành phần loài có sự phân hóa rõ rệt giữa hệ sinh thái sông chảy và hệ sinh thái hồ chứa:
- Khu hệ sông Cu Đê: Đa dạng nhất với 49 loài thuộc 44 giống, 29 họ và 10 bộ. Bộ Cá Vược (Perciformes) chiếm ưu thế vượt trội với 15 họ (51,72%), 19 giống (43,18%) và 24 loài (48,97%); tiếp theo là bộ Cá Chép (Cypriniformes) với 2 họ (6,89%), 9 giống (20,45%) và 9 loài (18,36%); bộ Cá Trích (Clupeiformes) có 2 họ, 5 giống và 5 loài (10,2%).
- Khu hệ sông Cẩm Lệ: Ghi nhận 32 loài thuộc 25 giống, 17 họ và 7 bộ. Bộ Cá Vược (Perciformes) chiếm ưu thế với 10 họ (58,82%), 10 giống (40%) và 17 loài (53,12%); tiếp đến là bộ Cá Chép (Cypriniformes) có 1 họ (5,88%), 6 giống (24%) và 6 loài (18,75%); bộ Cá Nheo (Siluriformes) có 2 họ, 3 giống và 3 loài (9,3%).
- Khu hệ sông Vĩnh Điện: Ghi nhận 30 loài thuộc 23 giống, 16 họ và 7 bộ. Bộ Cá Vược (Perciformes) chiếm 8 họ (50%), 8 giống (34,78%) và 15 loài (50%); bộ Cá Chép (Cypriniformes) có 1 họ (6,25%), 5 giống (21,73%) và 5 loài (16,66%); bộ Cá Nheo (Siluriformes) có 2 họ, 3 giống và 3 loài (10%).
- Khu hệ sông Hàn: Ghi nhận 28 loài thuộc 25 giống, 20 họ và 8 bộ. Bộ Cá Vược (Perciformes) chiếm 12 họ (60%), 14 giống (56%) và 16 loài (57,14%); bộ Cá Trích (Clupeiformes) có 2 họ (10%), 4 giống (16%) và 4 loài (14,28%); bộ Cá Chình (Anguilliformes) và bộ Cá Chép (Cypriniformes) mỗi bộ có 2 loài (7,14%).
- Khu hệ hồ Đồng Xanh – Đồng Nghệ: Ghi nhận 17 loài thuộc 16 giống, 9 họ và 6 bộ. Khác với các hệ sinh thái sông, bộ Cá Chép (Cypriniformes) vươn lên chiếm ưu thế tuyệt đối với 1 họ (11,11%), 7 giống (43,75%) và 7 loài (41,17%); đứng thứ hai là bộ Cá Vược (Perciformes) với 4 họ (44,44%), 4 giống (25%) và 5 loài (29,41%); bộ Cá Nheo (Siluriformes) có 2 loài (11,7%).
- Khu hệ hồ Bàu Tràm: Ghi nhận 14 loài thuộc 13 giống, 8 họ và 6 bộ. Bộ Cá Chép (Cypriniformes) chiếm ưu thế với 1 họ (12,5%), 6 giống (46,15%) và 6 loài (42,85%); bộ Cá Vược (Perciformes) có 3 họ (37,5%), 3 giống (23%) và 4 loài (28,57%).
- Khu hệ hồ Trước Đông: Ghi nhận 13 loài thuộc 12 giống, 7 họ và 6 bộ. Bộ Cá Chép (Cypriniformes) chiếm ưu thế với 1 họ (14,28%), 6 giống (50%) và 6 loài (46,15%); bộ Cá Vược (Perciformes) có 2 họ (28,57%), 2 giống (16,66%) và 3 loài (23,07%).
Nghiên cứu chỉ ra 5 loài cá phân bố phổ biến, xuất hiện đồng thời ở tất cả 7 khu hệ thủy vực khảo sát gồm: Cá Diếc (Carassius auratus), Cá Trắm cỏ (Ctenopharyngodon idellus), Lươn (Symbranchus albus), Cá Bống cát (Glossogobius aureus) và Cá Bống trắng (Glossogobius sparsipapillus). Ngoài ra, loài Cá Rô phi vằn (Oreochromis niloticus) và Cá Rô đồng (Anabas testudineus) cũng có tần suất bắt gặp tại cả 7 khu hệ.
| Bậc phân loại |
Sông Hàn |
Sông Cẩm Lệ |
Sông Vĩnh Điện |
Sông Cu Đê |
Hồ Đồng Xanh – Đồng Nghệ |
Hồ Trước Đông |
Hồ Bàu Tràm |
Tổng số loài nước ngọt VN |
| Bộ |
8 (44,4%) |
7 (38,8%) |
7 (38,8%) |
10 (55,5%) |
6 (33,3%) |
6 (33,3%) |
6 (33,3%) |
18 |
| Họ |
20 (35,0%) |
17 (29,8%) |
16 (28,0%) |
29 (50,8%) |
9 (15,7%) |
7 (12,2%) |
8 (14,0%) |
57 |
| Giống |
25 (10,9%) |
25 (10,9%) |
23 (10,0%) |
44 (19,2%) |
16 (7,0%) |
12 (5,2%) |
13 (5,7%) |
228 |
| Loài |
28 (5,1%) |
32 (5,8%) |
30 (5,5%) |
49 (9,0%) |
17 (3,1%) |
13 (2,3%) |
14 (2,5%) |
544 |
2. Đánh giá mức độ xâm nhập của các loài cá ngoại lai:
Trong số các loài cá ghi nhận, có 1 loài thuộc danh mục sinh vật ngoại lai có nguy cơ xâm hại theo Thông tư liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT là Cá Trê phi (Clarias gariepinus), cùng 2 loài cá nhập nội phục vụ nuôi trồng thủy sản đã thoát ra môi trường tự nhiên là Cá Diêu hồng (Oreochromis sp.) và Cá Rô phi vằn (Oreochromis niloticus).
- Cá Trê phi (Clarias gariepinus): Có nguồn gốc từ Trung Phi và Trung Đông. Khối lượng mẫu thu được dao động từ 250 đến 480 g/con (cá thể lớn thông thường từ 500g - 1kg). Tia vây lưng mềm từ 61-80, vây hậu môn mềm từ 45-65; không có gai cứng ở vây lưng; mấu xương chẩm nông hình tam giác. Đây là loài ăn tạp tầng đáy, chịu đựng được nồng độ oxy hòa tan thấp. Nguy cơ sinh thái lớn nhất của loài này là khả năng lai tạp tự nhiên với các loài cá trê bản địa (Clarias macrocephalus, Clarias batrachus), làm xói mòn và suy thoái nguồn gen cá bản địa.
- Cá Diêu hồng (Oreochromis sp.): Có nguồn gốc nhập nội từ Trung Quốc. Thân phủ vảy màu đỏ hồng hoặc vàng nhạt, khối lượng trung bình từ 240 đến 400 g/con (thông thường đạt 400-700g). Cá sống ở mọi tầng nước, ăn tạp. Loài này xuất hiện phổ biến ngoài tự nhiên do phát tán từ các lồng bè nuôi cá trên sông Cẩm Lệ, sông Vĩnh Điện và sông Cu Đê.
- Cá Rô phi vằn (Oreochromis niloticus): Có nguồn gốc từ Philippines. Thân có 6-8 vạch sắc tố thẳng đứng chạy từ lưng xuống bụng, khối lượng mẫu từ 200 đến 300 g/con. Loài này có biên độ sinh thái rộng, chịu được độ mặn lên đến 32‰ và nồng độ oxy thấp, hiện diện tại hầu hết các thủy vực, tập trung nhiều tại hồ Bàu Tràm.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã định lượng cụ thể tỷ lệ cá thể và sinh khối của 3 loài cá ngoại lai trong cấu trúc mẻ đánh bắt của ngư dân tại các hệ thống sông chính ở Đà Nẵng:
| Khu hệ thủy vực |
Loài cá ngoại lai |
Số cá thể thu được / Tổng số cá thể đánh bắt |
Tỷ lệ cá thể (%) |
Khối lượng cá thể (g/con) |
| Sông Hàn |
Cá Rô phi vằn (O. niloticus) |
2 / 30 |
6,66% |
200 - 270 |
| Sông Cẩm Lệ |
Cá Rô phi vằn (O. niloticus) |
3 / 25 |
12,00% |
250 - 300 |
|
Cá Diêu hồng (Oreochromis sp.) |
8 / 25 |
32,00% |
240 - 400 |
|
Cá Trê phi (C. gariepinus) |
2 / 21 |
9,50% |
250 - 450 |
| Sông Vĩnh Điện |
Cá Rô phi vằn (O. niloticus) |
2 / 20 |
10,00% |
200 - 250 |
|
Cá Diêu hồng (Oreochromis sp.) |
6 / 28 |
21,42% |
250 - 350 |
| Sông Cu Đê |
Cá Rô phi vằn (O. niloticus) |
5 / 30 |
16,66% |
250 - 300 |
|
Cá Diêu hồng (Oreochromis sp.) |
8 / 30 |
26,66% |
270 - 400 |
|
Cá Trê phi (C. gariepinus) |
3 / 26 |
11,53% |
250 - 480 |
Từ các kết quả phân tích thực trạng, tác giả đưa ra các nhóm giải pháp và kiến nghị quản lý môi trường:
- Tăng cường kiểm soát và quy hoạch hoạt động nuôi cá lồng bè thương phẩm trên sông Cẩm Lệ, sông Vĩnh Điện và sông Cu Đê, áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm ngăn chặn hiện tượng cá Diêu hồng và cá Rô phi thất thoát ra môi trường tự nhiên.
- Xây dựng chương trình giám sát định kỳ đối với loài Cá Trê phi nhằm kiểm soát mật độ quần thể, ngăn ngừa nguy cơ cạnh tranh thức ăn và lai tạp làm suy thoái nguồn gen cá trê bản địa.
- Thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu quan trắc đa dạng sinh học thủy sản định kỳ trên các hệ sinh thái sông, hồ thành phố Đà Nẵng để kịp thời phát hiện và ngăn chặn các loài thủy sinh vật ngoại lai xâm hại mới.
Đóng góp khoa học của đề tài thể hiện ở việc cung cấp bộ số liệu thực nghiệm có hệ thống đầu tiên về danh mục 61 loài cá tại 7 thủy vực đại diện của thành phố Đà Nẵng, đồng thời xác định rõ cơ cấu tỷ lệ cá thể và sinh khối của các loài ngoại lai xâm nhập, khắc phục tình trạng thiếu hụt dữ liệu ngư loại học tại khu vực đô thị ven biển miền Trung.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với điều kiện và phạm vi nghiên cứu thực tế:
- Thời gian khảo sát thực địa kéo dài 5 tháng (từ tháng 11/2017 đến tháng 03/2018), chưa bao quát trọn vẹn chu kỳ thủy văn cả năm (đặc biệt là đỉnh lũ tháng 10-11 và thời kỳ khô kiệt sâu vào tháng 7-8), do đó chưa phản ánh đầy đủ sự biến động theo mùa của toàn bộ khu hệ cá.
- Phương pháp điều tra phụ thuộc vào việc tham vấn cộng đồng và mẻ đánh bắt của ngư dân, dẫn đến khả năng bỏ sót một số loài cá kích thước nhỏ, cá đáy sâu hoặc cá có tập tính di cư đặc thù không thuộc đối tượng khai thác thương phẩm.
- Việc đo đạc sinh khối cá ngoại lai được thực hiện dựa trên các mẻ đánh bắt đơn lẻ, chưa tiến hành điều tra mật độ quần thể và trữ lượng tuyệt đối trên toàn diện tích lưu vực.
Hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm việc mở rộng thời gian quan trắc liên tục trong nhiều năm, bổ sung các đợt thu mẫu vào các mùa thủy văn khác nhau, mở rộng phạm vi lên các vùng thượng lưu sông Vu Gia - Thu Bồn và sông Cu Đê, đồng thời ứng dụng các chỉ thị sinh học phân tử để đánh giá chính xác mức độ lai tạp di truyền giữa cá Trê phi và các loài cá trê bản địa.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và các nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Sinh thái học, Ngư loại học và Đa dạng sinh học.
Các nội dung có giá trị tham khảo cụ thể trong văn bản bao gồm:
- Bảng danh mục định danh 61 loài cá nước ngọt và cá nước lợ kèm tên khoa học, họ, bộ phân bố tại 7 thủy vực ở Đà Nẵng.
- Dữ liệu so sánh cấu trúc ưu thế phân loại học giữa hệ sinh thái sông chảy (ưu thế bộ Cá Vược Perciformes) và hệ sinh thái hồ chứa (ưu thế bộ Cá Chép Cypriniformes).
- Các chỉ tiêu hình thái học, phân tích giải phẫu và số liệu sinh khối thực tế của 3 loài cá ngoại lai (Clarias gariepinus, Oreochromis sp., Oreochromis niloticus).
Câu hỏi thường gặp
1. Khu hệ thủy vực nào tại Đà Nẵng có độ đa dạng thành phần loài cá cao nhất trong nghiên cứu?
Khu hệ sông Cu Đê có độ đa dạng cao nhất với 49 loài thuộc 44 giống, 29 họ và 10 bộ, chiếm 9,0% tổng số loài cá nước ngọt ghi nhận trên toàn quốc. Bộ Cá Vược (Perciformes) tại sông Cu Đê chiếm ưu thế lớn nhất với 24 loài (48,97%).
2. Cấu trúc bộ cá chiếm ưu thế có sự khác biệt như thế nào giữa các hệ sinh thái sông và hồ tại Đà Nẵng?
Tại 4 khu hệ sông (sông Hàn, Cẩm Lệ, Vĩnh Điện, Cu Đê), bộ Cá Vược (Perciformes) chiếm ưu thế vượt trội (từ 48,97% đến 57,14% tổng số loài). Ngược lại, tại 3 khu hệ hồ chứa (Đồng Xanh – Đồng Nghệ, Trước Đông, Bàu Tràm), bộ Cá Chép (Cypriniformes) vươn lên chiếm ưu thế tuyệt đối (từ 41,17% đến 46,15% tổng số loài).
3. Những loài cá nào xuất hiện đồng thời tại cả 7 khu hệ sinh thái sông và hồ được khảo sát?
Có 5 loài cá phân bố tại tất cả 7 khu hệ gồm: Cá Diếc (Carassius auratus), Cá Trắm cỏ (Ctenopharyngodon idellus), Lươn (Symbranchus albus), Cá Bống cát (Glossogobius aureus) và Cá Bống trắng (Glossogobius sparsipapillus). Ngoài ra, loài cá ngoại lai Rô phi vằn (Oreochromis niloticus) và loài Rô đồng (Anabas testudineus) cũng có mặt tại cả 7 khu hệ.
4. Loài cá ngoại lai nào nằm trong danh mục nguy cơ xâm hại theo quy chuẩn pháp luật được phát hiện trong khóa luận?
Đó là loài Cá Trê phi (Clarias gariepinus), thuộc danh mục loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT. Loài này có đặc tính ăn tạp, sống tầng đáy, thích nghi oxy thấp và có nguy cơ lai tạp làm thoái hóa nguồn gen các loài cá trê đen và trê vàng bản địa.
5. Tỷ lệ cá thể và sinh khối của loài cá Diêu hồng (Oreochromis sp.) xâm nhập tại các sông được ghi nhận ở mức nào?
Cá Diêu hồng chiếm 32,0% tổng số cá thể đánh bắt tại sông Cẩm Lệ (khối lượng 240 - 400 g/con), 26,66% tại sông Cu Đê (khối lượng 270 - 400 g/con) và 21,42% tại sông Vĩnh Điện (khối lượng 250 - 350 g/con). Sự hiện diện phổ biến của loài này bắt nguồn từ hoạt động nuôi lồng bè thương phẩm trên các dòng sông.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thành Trung đã khảo sát và phân loại có hệ thống thành phần khu hệ cá tại 7 thủy vực sông, hồ tiêu biểu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2017 - 2018, xác định danh mục gồm 61 loài cá thuộc 32 họ và 12 bộ. Công trình chỉ rõ sự khác biệt sinh thái giữa khu hệ sông (ưu thế bộ Cá Vược) và khu hệ hồ (ưu thế bộ Cá Chép), đồng thời ghi nhận 5 loài cá phân bố rộng khắp các thủy vực. Đặc biệt, nghiên cứu đã định lượng mức độ phát tán và sinh khối của 3 loài cá ngoại lai gồm Cá Trê phi, Cá Diêu hồng và Cá Rô phi vằn trong các mẻ khai thác thủy sản tự nhiên. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch nuôi trồng thủy sản, quản lý đa dạng sinh học và kiểm soát sinh vật ngoại lai xâm hại tại địa phương.