Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành công nghiệp quảng cáo giữ vai trò thiết yếu trong nền kinh tế thị trường, đóng góp vào việc xúc tiến thương mại, thúc đẩy lưu thông hàng hóa, dịch vụ và hỗ trợ người tiêu dùng tiếp cận thông tin. Trong các loại hình truyền thông tiếp thị, quảng cáo ngoài trời chiếm thị phần lớn thứ hai (chỉ xếp sau quảng cáo truyền hình). Hoạt động này được phân chia thành hai nhóm phương thức chính:

  1. Quảng cáo ngoài trời vật lý (Out-of-home Advertising - OOH): Hình thức truyền thống sử dụng hệ thống bảng biển tấm lớn (pano, billboard), áp phích, băng rôn, ghế xe buýt, biển báo nhà ga và thành phương tiện giao thông.
  2. Quảng cáo ngoài trời kỹ thuật số (Digital out-of-home Advertising - DOOH): Hình thức ứng dụng công nghệ số như màn hình điện tử, bảng đèn LED.

Tại Việt Nam, sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và ban hành Luật Thương mại 2005, Quốc hội đã thông qua Luật Quảng cáo năm 2012 nhằm thiết lập hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động này. Thị trường quảng cáo trong nước bộc lộ ba đặc điểm nhu cầu nổi bật: nhu cầu đa dạng theo từng nhóm ngành hàng; nhu cầu mang tính tự phát ở nhiều doanh nghiệp nội địa (thực hiện quảng cáo khi gặp khó khăn trong bán hàng thay vì lập chiến lược Marketing dài hạn); và nhu cầu tiềm năng khi OOH là giải pháp tối ưu chi phí cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Tuy nhiên, sau gần một thập kỷ thi hành Luật Quảng cáo 2012, thực tiễn áp dụng đã bộc lộ nhiều điểm nghẽn pháp lý:

  • Thiếu định nghĩa pháp lý chuẩn xác về "quảng cáo thương mại ngoài trời" trong các văn bản luật.
  • Quy định về chế tài xử lý vi phạm chưa phân định mức độ phạt tăng nặng theo số lần vi phạm hoặc trách nhiệm bồi thường thiệt hại, cải chính công khai.
  • Quy trình cấp phép xây dựng công trình quảng cáo ngoài trời có sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa cơ quan quản lý văn hóa và cơ quan xây dựng, tạo ra tình trạng "Thông tư to hơn Luật".
  • Luật Quảng cáo cho phép miễn đăng ký đối với biển quảng cáo cỡ nhỏ nhưng Luật Xây dựng chưa cập nhật đồng bộ.
  • Công tác lập và phê duyệt quy hoạch quảng cáo ngoài trời tại các địa phương diễn ra chậm trễ, thiếu tính ổn định.

Tại thành phố Hải Phòng — đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương, đầu mối giao thông đường biển, đường bộ, đường sắt và hàng không trọng điểm của miền Bắc — hoạt động quảng cáo ngoài trời phát triển nhanh chóng, đặc biệt sau khi tuyến cao tốc Hà Nội – Hải Phòng đi vào vận hành. Dù vậy, do thành phố chưa ban hành kịp thời quy hoạch quảng cáo ngoài trời tổng thể, các hoạt động lắp đặt biển bảng vẫn mang tính tự phát, gây ảnh hưởng đến trật tự mỹ quan đô thị và an toàn giao thông.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và khung pháp luật về quảng cáo thương mại ngoài trời tại Việt Nam.
  • Khảo sát, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về quảng cáo ngoài trời trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
  • Chỉ ra các vướng mắc, bất cập và nguyên nhân phát sinh trong quá trình thi hành pháp luật.
  • Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quảng cáo ngoài trời tại Việt Nam nói chung và Hải Phòng nói riêng.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại ngoài trời; so sánh, đối chiếu với kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia châu Á (Singapore, Nhật Bản).
  2. Khảo sát thực tế tình hình áp dụng pháp luật, công tác quản lý nhà nước và hoạt động thanh tra, kiểm tra trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
  3. Nhận diện các hạn chế, vướng mắc trong hệ thống pháp luật và khâu tổ chức thực thi tại địa phương.
  4. Đề xuất nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện quy hoạch, quản lý tại thành phố Hải Phòng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận pháp lý, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quảng cáo thương mại ngoài trời và thực tiễn thi hành các quy định này.
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào địa bàn thành phố Hải Phòng, có liên hệ đối chiếu với mặt bằng chung cả nước và kinh nghiệm của Singapore, Nhật Bản.
  • Phạm vi nội dung và thời gian: Hệ thống văn bản pháp lý xoay quanh Luật Thương mại 2005, Luật Quảng cáo 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành tính đến năm 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu dựa trên các khái niệm học thuật và quy định pháp lý hiện hành:

  • Khái niệm quảng cáo: Theo Từ điển Tiếng Việt (1988), Từ điển Oxford Advanced Learner’s Dictionary, Từ điển Bách khoa Việt Nam (Tập 3) và Khoản 1 Điều 2 Luật Quảng cáo 2012.
  • Khái niệm quảng cáo thương mại ngoài trời (tác giả đề xuất): Là hoạt động xúc tiến thương mại do các chủ thể thực hiện thông qua các phương tiện quảng cáo ngoài trời nhằm giới thiệu hàng hóa, dịch vụ và hoạt động kinh doanh đến người tiêu dùng với mục đích sinh lợi.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật làm nền tảng:

  • Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/06/2005.
  • Luật Quảng cáo số 16/2012/QH13 ngày 21/06/2012.
  • Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 ban hành quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng.
  • Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quảng cáo.
  • Nghị định số 38/2021/NĐ-CP ngày 29/03/2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo.
  • Thông tư số 10/2013/TT-BVHTTDL ngày 06/12/2013 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quảng cáo và Nghị định 181/2013/NĐ-CP.
  • Thông tư số 04/2018/TT-BXD ngày 20/05/2018 ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xây dựng và lắp đặt phương tiện quảng cáo ngoài trời.
  • Hướng dẫn số 3873/HD-BVHTTDL ngày 11/11/2008 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về quy hoạch quảng cáo ngoài trời.
  • Quyết định số 2307/2016/QĐ-UBND ngày 13/10/2016 của UBND thành phố Hải Phòng ban hành Quy chế quản lý hoạt động quảng cáo ngoài trời trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Tiêu chí so sánh Pháp luật Việt Nam Pháp luật Singapore Pháp luật Nhật Bản
Định nghĩa quảng cáo Gồm cả thương mại và phi thương mại (Khoản 1 Điều 2 Luật Quảng cáo 2012). Chỉ công nhận quảng cáo có mục đích thương mại; biển phi thương mại gọi là "biển hiệu". Có quy định riêng và ngoại lệ theo từng vùng địa lý, điều kiện địa phương.
Hệ thống cấp phép Hồ sơ giấy hoặc một cửa tại Sở VHTT; thủ tục qua nhiều cơ quan liên ngành. Vận hành Hệ thống cấp phép quảng cáo trực tuyến (ALS) và tích hợp bản đồ URA. Hồ sơ phân định rõ 03 trường hợp: cấp mới, cấp tiếp tục, thay đổi cấp phép.
Quy định quy hoạch & vùng cấm Giao UBND cấp tỉnh lập đề án quy hoạch dựa trên văn bản dưới luật. Quy định chi tiết các loại biển và vị trí cấm ngay trong văn bản luật. Phân chia tiêu chuẩn cấp phép theo 6 mức độ khu vực; tích hợp Luật Công viên và Bảo tồn tự nhiên.
Hậu kiểm & dỡ bỏ Chưa có quy định bắt buộc báo cáo dỡ bỏ sau khi hết hạn. Giám sát chặt chẽ dựa trên phân loại biển hiệu và nộp lệ phí tương ứng. Bắt buộc gửi báo cáo loại bỏ khi hết hạn, chuyển địa điểm hoặc dừng trưng bày.

Phương pháp nghiên cứu thực hiện:

  • Phương pháp luận: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin; quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp so sánh luật học, phương pháp thống kê, phương pháp bình luận văn bản quy phạm pháp luật và khảo sát thực tế tại địa bàn.

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp trích xuất từ các báo cáo chuyên ngành của Sở Văn hóa và Thể thao TP Hải Phòng (đơn vị thực tập tốt nghiệp: số 18 Minh Khai, quận Hồng Bàng), Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Giao thông vận tải Hải Phòng và số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và khung pháp luật về quảng cáo thương mại ngoài trời

Chương 1 làm rõ các khái niệm nền tảng về quảng cáo, phân biệt quảng cáo theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Tác giả phân tích 4 đặc điểm cơ bản của quảng cáo thương mại ngoài trời:

  • Mang tính chất xúc tiến thương mại nhằm mục đích sinh lợi của các tổ chức, cá nhân.
  • Nội dung thông điệp phụ thuộc trực tiếp vào đặc tính của phương tiện quảng cáo ngoài trời.
  • Chịu sự quản lý nhà nước chặt chẽ thông qua quy hoạch chính thức nhằm bảo đảm an toàn xây dựng và mỹ quan đô thị.
  • Tính linh hoạt cao với tần suất truyền tải liên tục 24/24 giờ trong không gian công cộng.

Tác giả phân tích khung pháp lý điều chỉnh các nhóm quan hệ: đối tượng quảng cáo, nội dung thông điệp, điều kiện phương tiện và chế tài vi phạm. Đề tài chỉ ra quy định tại Khoản 3 Điều 8 Luật Quảng cáo (cấm quảng cáo "thiếu thẩm mỹ, trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam") có sự trùng lặp, kiến nghị gom chung về tiêu chí "thuần phong mỹ tục". Chương này cũng nghiên cứu kinh nghiệm quản lý của Singapore (hệ thống trực tuyến ALS, ngưỡng diện tích cấp phép trên 5m²) và Nhật Bản (phân loại 6 mức độ khu vực cấp phép, nghĩa vụ nộp báo cáo loại bỏ biển hiệu).

Phần cuối chương phân tích điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng tác động đến hoạt động quảng cáo ngoài trời: dân số 2.514.000 người (đứng thứ 7 cả nước năm 2019, tập trung tại các quận Lê Chân, Ngô Quyền, Hồng Bàng); mạng lưới giao thông liên hoàn (Quốc lộ 5, Quốc lộ 10, cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, Cảng hàng không Cát Bi); và nguồn cung cấp điện năng dồi dào từ các nhà máy nhiệt điện lân cận (Hải Phòng 1, Hải Phòng 2, Phả Lại, Uông Bí) phục vụ vận hành bảng biển chiếu sáng.

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại ngoài trời và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hải Phòng

Chương 2 đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện các thủ tục hành chính và quản lý hoạt động quảng cáo trên các kênh truyền thông tại địa phương:

  • Quy trình tiếp nhận hồ sơ thông báo sản phẩm quảng cáo: Sở Văn hóa và Thể thao Hải Phòng tiếp nhận hồ sơ qua bộ phận một cửa hoặc bưu điện, thời hạn thẩm định và trả lời kết quả trong vòng 05 ngày làm việc theo đúng quy định.
  • Công tác kiểm tra, chấn chỉnh biển hiệu: Thanh tra Sở VHTT phối hợp với các lực lượng liên ngành rà soát, xử lý các biển hiệu sai kích thước, sai tỷ lệ chữ tiếng Việt so với tiếng nước ngoài, tổ chức tháo dỡ các khung treo băng rôn, khẩu hiệu lắp đặt sai quy chuẩn trên vỉa hè gây mất an toàn giao thông.
Kênh phương tiện Quy định pháp lý áp dụng Thực tế ghi nhận tại TP Hải Phòng Đánh giá chấp hành
Phát thanh - Truyền hình Thời lượng quảng cáo không vượt quá 10% tổng thời lượng phát sóng/ngày. Kênh THP (Đài PT-TH Hải Phòng) đạt bình quân 02 giờ quảng cáo/ngày. Thực hiện đúng quy định; yêu cầu đầy đủ giấy phép đối với sản phẩm quảng cáo.
Báo chí in Diện tích quảng cáo không vượt quá 15% (báo in) hoặc 20% (tạp chí). Tạp chí Sinh hoạt chi bộ chỉ dùng bìa 2, 3, 4 để tuyên truyền chính sách (dưới 20%). Báo Hải Phòng, An ninh Hải Phòng có số báo vượt 10%. Sở TTTT đã kịp thời nhắc nhở các số báo có diện tích quảng cáo vượt định mức.
Báo điện tử & Website Không được thiết kế quảng cáo lẫn vào nội dung tin bài chính. Cổng thông tin điện tử thành phố và các quận, huyện chấp hành nghiêm. Một số website doanh nghiệp đặt logo sai quy định. Vẫn còn tình trạng website doanh nghiệp (như tamhaiphong.vn) đặt logo quảng cáo tràn lan.
Sản phẩm in (Tờ rơi, catalog) Quảng cáo không vượt quá 20% diện tích sản phẩm in cổ động, tuyên truyền. NXB Hải Phòng, NXB Hàng Hải không quảng cáo trong sách. Các ấn phẩm tờ gấp cơ bản không quảng cáo. Bản tin phường Cầu Tre (Xuân Đinh Dậu 2017) vi phạm quảng cáo đã bị xử lý theo Luật Báo chí 2016.
Phương tiện giao thông Cấm quảng cáo ở mặt trước, mặt sau và trên nóc; không vượt quá 50% diện tích mỗi mặt. Thực hiện quản lý thông qua cơ chế hậu kiểm; tuân thủ quy chuẩn của Luật Giao thông đường bộ và Luật Quảng cáo. Cơ bản chấp hành đúng các quy định về vị trí và diện tích dán decal quảng cáo.

Chương này chỉ rõ 3 nhóm hạn chế, nguyên nhân phát sinh vướng mắc:

  1. Bất cập thủ tục và xung đột văn bản: Sự chồng chéo giữa Luật Quảng cáo và Luật Xây dựng trong việc cấp phép xây dựng công trình quảng cáo; tình trạng quy định của Thông tư chưa ăn khớp với Luật.
  2. Hạn chế của Nghị định 181/2013/NĐ-CP: Văn bản chỉ có Chương 4 gồm 4 Điều quy định về quảng cáo ngoài trời, tập trung điều chỉnh thẩm quyền phê duyệt của UBND cấp tỉnh mà chưa chú trọng quyền, nghĩa vụ và mức phạt cụ thể đối với tổ chức, doanh nghiệp khai thác quảng cáo.
  3. Chậm trễ trong quy hoạch địa phương: Hải Phòng chưa phê duyệt xong Đề án điều chỉnh quy hoạch quảng cáo ngoài trời đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, dẫn đến việc cấp phép bị đình trệ, nảy sinh tình trạng doanh nghiệp "làm chui".

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quảng cáo thương mại ngoài trời

Chương 3 đề xuất định hướng và các giải pháp cụ thể:

  • Ba định hướng lớn: (1) Hoàn thiện pháp luật gắn liền với bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng; (2) Đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ giữa Luật Quảng cáo, Luật Xây dựng và Luật Đất đai; (3) Gắn kết công tác quy hoạch quảng cáo với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật:
    • Bổ sung định nghĩa pháp lý chính thức về "quảng cáo thương mại ngoài trời" vào Luật Quảng cáo.
    • Sửa đổi các quy chuẩn kỹ thuật xây dựng công trình quảng cáo, bãi bỏ các điều kiện cấp phép chồng chéo giữa ngành Xây dựng và Văn hóa.
    • Bổ sung chế tài xử phạt hành chính tăng nặng tương ứng với số lần tái phạm và quy định cụ thể trách nhiệm bồi thường thiệt hại, cải chính thông tin.
  • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi tại Hải Phòng:
    • UBND thành phố Hải Phòng sớm phê duyệt và ban hành Dự án "Rà soát, điều chỉnh và bổ sung Quy hoạch quảng cáo ngoài trời và cổ động trực quan Thành phố Hải Phòng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030".
    • Nghiên cứu xây dựng cổng dịch vụ công trực tuyến và hệ thống bản đồ số vị trí quảng cáo theo mô hình ALS và bản đồ URA của Singapore.
    • Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Xây dựng, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Giao thông vận tải và UBND các quận, huyện trong công tác thanh tra, hậu kiểm.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu thực tế:

    • Khảo sát toàn diện hệ thống văn bản chỉ đạo của thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016–2020 (các Công văn số 2719/SVHTT-QLVH, 720/SVHTT-QLVH, 1523/SVHTT-QLVH, 1736/SVHTT-QLVH, 1773/SVHTT-QLVH, 2478/SVHTT-QLVH của Sở VHTT; các Văn bản số 822/STTTT-BCXB, 247/STTTT-TTBCXB, 487/STTTT-TTBCXB, 1461/STTTT-TTBCXB của Sở TTTT).
    • Thu thập và phân tích dữ liệu cụ thể về thời lượng, diện tích quảng cáo trên hệ thống báo chí, truyền hình địa phương (kênh THP đạt bình quân 02 giờ/ngày; các ấn phẩm xuất bản tuân thủ hạn mức diện tích dưới 20%).
    • Làm rõ quy trình giải quyết thủ tục thông báo sản phẩm quảng cáo tại Sở VHTT với thời hạn xử lý 05 ngày làm việc.
  • Đóng góp khoa học và thực tiễn:

    • Xây dựng định nghĩa học thuật về "quảng cáo thương mại ngoài trời" nhằm khắc phục khoảng trống khái niệm trong văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.
    • Phân tích kinh nghiệm lập pháp quốc tế có tính ứng dụng cao (hệ thống cấp phép ALS của Singapore, quy định báo cáo loại bỏ biển hiệu của Nhật Bản) để đề xuất áp dụng vào lộ trình sửa đổi Luật Quảng cáo.
    • Nhận diện trực diện xung đột thẩm quyền cấp phép giữa cơ quan Văn hóa và Xây dựng, đề xuất phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính nhằm giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
    • Cung cấp luận cứ khoa học hỗ trợ UBND thành phố Hải Phòng trong việc hoàn thiện và ban hành quy hoạch quảng cáo ngoài trời đến năm 2030.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Dữ liệu khảo sát thực tiễn tập trung chủ yếu trên địa bàn thành phố Hải Phòng và các số liệu thống kê dừng lại ở mốc thời gian năm 2021.
    • Chưa tiến hành khảo sát định lượng diện rộng về mức độ thiệt hại tài chính của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ quảng cáo do việc chậm ban hành quy hoạch đô thị.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Nghiên cứu cơ chế pháp lý quản lý chuyên biệt đối với loại hình quảng cáo ngoài trời kỹ thuật số (DOOH), màn hình LED 3D tương tác trong đô thị thông minh.
    • Đi sâu phân tích cơ chế bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm dân sự của các bên khi biển quảng cáo ngoài trời xảy ra sự cố gãy đổ, gây mất an toàn kỹ thuật.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Hành chính, Quản lý Văn hóa, Marketing và Báo chí truyền thông.
    • Cán bộ làm công tác tham mưu, quản lý nhà nước tại Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Xây dựng và Phòng Văn hóa – Thông tin cấp quận/huyện.
    • Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ quảng cáo, đơn vị thi công biển bảng ngoài trời nhằm nắm bắt quy chuẩn kỹ thuật và hạn chế rủi ro pháp lý.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Bảng so sánh mô hình pháp luật quản lý OOH của Singapore và Nhật Bản.
    • Hệ thống thống kê văn bản điều hành và quy trình xử lý thủ tục hành chính quảng cáo tại thành phố Hải Phòng.
    • Các luận điểm phân tích mâu thuẫn giữa Luật Xây dựng và Luật Quảng cáo trong khâu cấp phép xây dựng công trình quảng cáo.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả định nghĩa "quảng cáo thương mại ngoài trời" như thế nào trong khóa luận?

Tác giả đề xuất định nghĩa: "Quảng cáo thương mại ngoài trời là hoạt động xúc tiến thương mại được các chủ thể thực hiện thông qua các phương tiện quảng cáo ngoài trời nhằm giới thiệu hàng hóa, dịch vụ và hoạt động kinh doanh đến với người tiêu dùng với mục đích sinh lợi".

2. Pháp luật Singapore và Nhật Bản có những điểm tiến bộ nào được tác giả đề xuất Việt Nam học hỏi?

Singapore sở hữu Hệ thống cấp phép quảng cáo ALS trực tuyến kết hợp bản đồ quy hoạch đô thị URA, giúp doanh nghiệp tra cứu và kiểm tra vị trí đặt biển trước khi đăng ký. Nhật Bản quy định phân loại tiêu chuẩn cấp phép thành 6 mức độ khu vực địa lý, phân định 03 bộ hồ sơ (cấp mới, cấp tiếp tục, thay đổi) và bắt buộc chủ thể phải nộp báo cáo loại bỏ biển quảng cáo khi ngừng sử dụng.

3. Thực trạng phát sóng quảng cáo trên Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng được ghi nhận ra sao?

Theo số liệu trong khóa luận, Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng phát sóng bình quân 02 giờ quảng cáo/ngày trên kênh THP, bảo đảm không vượt quá tỷ lệ 10% tổng thời lượng chương trình phát sóng trong ngày theo đúng quy định của Luật Quảng cáo.

4. Mâu thuẫn chính giữa cơ quan Văn hóa và cơ quan Xây dựng trong thủ tục cấp phép công trình quảng cáo ngoài trời là gì?

Tác giả chỉ ra hiện tượng chồng chéo, xung đột: cơ quan quản lý văn hóa yêu cầu doanh nghiệp phải có giấy phép xây dựng mới tiếp nhận hồ sơ quảng cáo, trong khi cơ quan xây dựng lại yêu cầu phải có văn bản chấp thuận của cơ quan văn hóa mới cấp giấy phép xây dựng. Đồng thời, Luật Quảng cáo miễn đăng ký với một số biển hiệu cỡ nhỏ nhưng Luật Xây dựng chưa cập nhật đồng bộ.

5. Khóa luận kiến nghị giải pháp trọng tâm nào đối với công tác quản lý quảng cáo ngoài trời tại Hải Phòng?

Khóa luận kiến nghị UBND thành phố Hải Phòng khẩn trương xem xét, phê duyệt dự án "Rà soát, điều chỉnh và bổ sung Quy hoạch quảng cáo ngoài trời và cổ động trực quan Thành phố Hải Phòng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030", đồng thời tăng cường thanh tra liên ngành nhằm xử lý triệt để tình trạng biển hiệu sai kích thước và quảng cáo rao vặt trái phép.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Nhật Hoàng đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, khung pháp lý và thực tiễn áp dụng pháp luật về quảng cáo thương mại ngoài trời tại Việt Nam thông qua khảo sát thực tế tại thành phố Hải Phòng. Đề tài chỉ rõ những bất cập trong quy trình cấp phép, sự thiếu đồng bộ giữa các văn bản luật và sự chậm trễ trong công tác quy hoạch quảng cáo ở địa phương. Trên cơ sở đối chiếu kinh nghiệm quốc tế từ Singapore và Nhật Bản, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện thể chế đến đổi mới công tác quản lý nhà nước tại đô thị loại 1.