CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU ĐIỆN NĂNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Đặc điểm và vai trò của xuất khẩu điện năng 1. Đặc điểm của xuất khẩu điện năng dfg Hoạt động kinh doanh xuất khẩu điện năng là một loại hình xuất khẩu hàng hóa nên nó mang đầy đủ đặc điểm của hoạt động này có những đặc điểm chủ yếu sau: Thời gian lưu chuyển điện năng xuất khẩu: thời gian lưu chuyển hàng hóa tronghoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu điện năng bao giờ cũng dài hơn so với thời gian lưu chuyển điện năng trong hoạt động kinh doanh nội địa do phải thực hiện hai giai đoạn bán hàng. Đối với hoạt động xuất khẩu điện năng là mua ở thị trường trong nước bán cho thị trường ngoài nước.
Do đó để xác định kết quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu điện năng, người ta chỉ xác định khi điện năng đã luân chuyển được mộtvòng hay khi đã thực hiện xong 1 thương vụ ngoại thương. Điện năng kinh doanh xuất khẩu: Hàng hóa trong kinh doanh xuất khẩu điện năng là loại hàng hóa đặc biệt ảnh hưởng đến tình hình kinh tế, chính trị xã hội và hợp tác , ngoại giao quốc tế do đó hàng hóa phải qua quá trình sản xuất và kiểm nghiêm ngặt đạt tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000: 2008 về lưu lượng, công suất, an toàn trong sử dụng và truyền tải, hạn chế tối ưu hóa tổn thất điện năng xuất khẩu, đảm bảo hệ thống mảng lưới truyển tải, phát điện điện năng nhu cầu trong nước trước khi lên kế hoạch xuất khẩu, bên cạnh đó đầu tư xây dưng hệ thống mạng lưới cơ sở hạ tầng xuất khẩu đến các đối tác. Nói tóm lại điện năng xuất khẩu phải đảm bảo yêu cầu lưu lượng, công suất, chất lượng và mối quan hệ đối tác chính trị. Thời gian giao, nhận hàng và thời điểm thanh toán: Thời điểm xuất nhập khẩu hàng hóavà thời điểm thanh toán tiền hàng thường không trùng nhau mà có khoảng cách kéo dài.
Phương thức thanh toán: Phương thức ủy thác mua hàng (Authority to 6 purchase – A/P): A/P là một phương thức thanh toán áp dụng trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, theo đó Ngân hàng của nhà nhập khẩu, theo yêu cầu của nhà nhập khẩu, ra văn bản yêu cầu ngân hàng đại lý ở nước xuất khẩu phát hành một A/P cam kết sẽ mua hối phiếu của nhà xuất khẩu ký phiếu với điều kiện chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện đặt ra trong A/P và phải được đại diện của nhà nhập khẩu xác nhận thanh toán. Bản chất của phương thức này là nhà nhập khẩu thông qua ngân hàng của mình ở nước nhập khẩu chuyển tiền sang một ngân hàng ở nước xuất khẩu để ủy thác cho ngân hàng này trả tiền hối phiếu của nhà xuất khẩu ký phát. Có hai cách thức chuyển tiền sang ngân hàng của nước xuất khẩu để mua hàng: Một là, nhà nhập khẩu thông qua ngân hàng của mình chuyển tiền đặt cọc 100% sang ngân hàng nước xuất khẩu để ngân hàng này phát hành A/P. Hai là, nhà nhập khẩu yêu cầu ngân hàng của mình phát hành A/P cho ngân hàng đại lý ở nước xuất khẩu hưởng và đặt cọc 100% trị giá của A/P.
Trên cơ sở A/P đó, ngân hàng nước xuất khẩu phát hành một A/P đối ứng cho người thụ hưởng là nhà xuất khẩu. Về điều kiện chứng từ của nhà xuất khẩu gồm có: - Hối phiếu hoặc hóa đơn của nhà xuất khẩu xuất trình phải được đại diện của nhà nhập khẩu tại nước xuất khẩu đồng ý thanh toán. - Các chứng từ xuất trình phải phù hợp với Hợp đồng mua bán hàng hóa mà hai bên đã ký kết. Phương thức thanh toán này khá an toàn cho nhà xuất khẩu nhưng ngược lại sẽ có nhiều bất lợi cho nhà nhập khẩu khi mà tiền đã xuất ra nhưng chưa chắc đã nhận được hàng hoặc nhận được hàng kém chất lượng hoặc bị giao hàng chậm trễ.
Để hạn chế rủi ro cho mình, nhà nhập khẩu cần đưa ra những điều kiện cụ thể, nội dung, quy trình thanh toán chi tiết nếu áp dụng phương thức A/P để tránh bất lợi cho mình sau này. 7 */Phương thức tín dụng chứng từ (Letter of Credit – L/C): Theo phương thức này thì một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng), theo yêu cầu của khách hàng (bên yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những qui định của thư tín dụng. Thực chất trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, phương thức thanh toán thư tín dụng đã chuyển trách nhiệm thanh toán từ nhà nhập khẩu sang ngân hàng bảo đảm nhà xuất khẩu giao hàng và nhận tiền hàng an toàn, nhanh chóng, nhà nhập khẩu nhận được hóa đơn vận chuyển hàng đúng hạn. Vì vậy, ở một mức độ nhất định, L/C là phương thức thanh toán cân bằng được lợi ích của cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu và giải quyết được mâu thuẫn không tín nhiệm nhau của cả hai bên.
Vì vậy, phương thức này được sử dụng phổ biến trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế. Đây là một phương thức thanh toán khá an toàn, tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các bên cần lưu ý các đặc điểm pháp lý sau đây của thư tín dụng để tránh áp dụng sai, gây thiệt hại cho chính bản thân mình. - L/C là một khế ước độc lập với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (hợp đồng cơ sở) - L/C được hình thành trên cơ sở hợp đồng cơ sở (hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ,…) nhưng khi được phát hành nó hoàn toàn độc lập với hợp đồng cơ sở. Ngân hàng mở thư tín dụng và các ngân hàng khác tham dự vào nghiệp vụ thư tín dụng chỉ làm theo quy định của thư tín dụng.
- Thư tín dụng là một “kiểu mua bán chứng từ” (L/C): Theo Điều 5 của UPC600 thì: “Các ngân hàng giao dịch trên cơ sở các chứng từ chứ không phải bằng hàng hóa, dịch vụ hoặc các thực hiện khác mà các chứng từ có liên quan”. Như vậy Ngân hàng có nghĩa vụ thanh toán cho nhà xuất khẩu khi họ xuất trình được các chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản qui định trong L/C. Ngân hàng không được phép lấy lý do bên mua chưa nhận hàng để từ chối 8 thanh toán nếu chứng từ mà bên bán xuất trình phù hợp với các điều kiện và điều khoản quy định trong L/C. */Bảo lãnh và Tín dụng dự phòng: Thực chất bảo lãnh và tín dụng dự phòng là các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng.
Bảo lãnh là việc người thứ a (người bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (người được bảo lãnh) nếu khi đến thời hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Trong giao dịch xuất nhập khẩu thường có các bảo lãnh: bảo lãnh thực hiện hợp đồng; bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước (hoặc tiền đặt cọc); bảo lãnh bảo hành máy móc, thiết bị; bảo lãnh nhận hàng chưa có vận đơn gốc; bảo lãnh thanh toán Thư tín dụng dự phòng là cam kết không hủy ngang, độc lập, bằng văn bản và ràng buộc khi được phát hành. Trong đó người phát hành cam kết với người thụ hưởng thanh toán chứng từ xuất trình trên bề mặt phù hợp với các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng dự phòng theo đúng quy tắc. Người phát hành phải thanh toán chứng từ xuất trình bằng việc chuyển số tiền theo phương thức trả tiền ngay, hoặc chấp nhận hối phiếu của người thụ hưởng hoặc cam kết trả tiền sau hoặc chiết khấu….
Bảo lãnh hoặc thư tín dụng dự phòng được sử dụng kết hợp với các phương thức thanh toán khác để tăng độ an toàn cho các bên. Do vậy, trong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, đặc biệt đối với các hàng hóa có giá trị lớn như máy móc, thiết bị các bên cũng nên xem xét và áp dụng các biện pháp bảo lãnh hoặc thư tín dụng dự phòng. Giá cả và tiền tệ áp dụng trong xuất khẩu: Trong các hiệp định và hợp đồng phải có qui định điều kiện tiền tệ dùng để thanh toán. Điều kiện tiền tệ cho biết việc sử dụng các loại tiền nào để tính toán và thanh toán trong các hợp đồng ngoại thương, đồng thời qui định cách xử lý trong giá trị đồng tiền đó biến động.
Giá cả trong hợp đồng mua bán ngoại thương sẽ là điều kiện để xác định địa điểm giao hàng trong hợp đồng. Điều kiện về địa điểm giao hàng 9 chính là sự phân chia trách nhiệm giữa người bán và người mua về các khoản chi phí về rủi ro, được quy định trong luật buôn bán quốc tế (Incoterms- 2000). Vai trò của xuất khẩu điện năng 1.1 vai trò của xuất khẩu điện năng đối với CHDCND Lào Quốc gia cũng như cá nhân không thể sống một cách riêng rẽ mà có được đầy đủ mọithứ hàng hoá. Buôn bán quốc tế có ý nghĩa sống còn, mở rộng khả năng tiêu dùng củamột nước.
Xuất khẩu điện năng là một trong những hoạt động TMQT có vai trò quan trọng thể hiện trên cácmặt sau: + Xuất khẩu điện năng nhằm khai thác lợi thế, phát triển có hiệu quả kinh tế trong nước Trong thế giới hiện đại không một quốc gia nào bằng chính sách đóng cửa của mình lạiphát triển có hiệu quả kinh tế trong nước. Muốn phát triển nhanh mỗi nước không thểđơn độc dựa vào nguồn lực của mình mà phải biết tận dụng các thành tựu kinh tế khoahọc kỹ thuật của loài người để phát triển. Nền kinh tế “mở cửa”, trong đó xuất khẩuđóng vai trò then chốt sẽ mở hướng phát triển mới tạo điều kiện khai thác lợi thế tiềmnăng sẵn có trong nước nhằm sử dụng phân công lao động quốc tế một cách có lợi nhất. Đối với những nước mà trình độ phát triển kinh tế còn thấp, những nhân tốtiềm năng là: tài nguyên thiên nhiên và lao động.
Còn những yếu tố thiếu hụt là vốn, kỹthuật, thị trường và kĩ năng quản lý. Xuất khẩu điện năng là giải pháp mở cửa nền kinh tế nhằmtranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, kết hợp chúng với tiềm năng trong nước vềlao động và tài nguyên thiên nhiên để tạo sự tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế, góp phầnrút ngắn khoảng cách chênh lệch với các nước giàu.