Tổng quan luận án
Vấn đề môi trường, biến đổi khí hậu, suy giảm hệ sinh thái và cạn kiệt tài nguyên đang trở thành thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Trong giai đoạn 2021–2030, chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam đặt trọng tâm vào tăng trưởng bền vững, bảo vệ môi trường và giải quyết hài hòa các mối quan hệ kinh tế – xã hội – sinh thái. Đối với ngành điện lực Việt Nam, khâu phát điện chiếm tỷ trọng xấp xỉ 80% trong cơ cấu giá thành sản xuất, trong đó phần lớn là chi phí nguyên nhiên liệu (đặc biệt ở các nhà máy nhiệt điện than và nhiệt điện khí). Hoạt động sản xuất điện từ nhiên liệu hóa thạch tạo ra lượng phát thải khí, xỉ than, nước thải và các chất thải nguy hại lớn, gây áp lực trực tiếp lên hệ sinh thái xung quanh.
Mặc dù kế toán quản trị môi trường (KTQTMT) đã được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi trên thế giới trong hơn hai thập kỷ qua, tại Việt Nam, công cụ này vẫn còn khá mới mẻ và chưa được triển khai đồng bộ. Phần lớn các doanh nghiệp sản xuất điện chưa nhận diện đầy đủ các chi phí môi trường ẩn trong quá trình vận hành, dẫn đến việc thiếu hụt thông tin chính xác để kiểm soát chi phí nguyên nhiên liệu đầu vào, phân bổ chi phí chung và tối ưu hóa các quyết định quản trị trong bối cảnh thị trường điện cạnh tranh.
Khoảng trống nghiên cứu được xác định bao gồm:
- Thiếu các công trình nghiên cứu chuyên sâu về KTQTMT trong đặc thù ngành sản xuất điện tại Việt Nam – ngành có quy mô vốn lớn, công nghệ đặc thù và tác động môi trường sâu rộng so với các ngành sản xuất khác.
- Các nghiên cứu kế toán môi trường trong nước trước đây chủ yếu tiếp cận dưới góc độ kế toán tài chính phục vụ công bố thông tin ra bên ngoài hoặc chỉ tập trung vào chi phí môi trường mà bỏ qua khía cạnh doanh thu môi trường và thước đo vật chất.
- Kết quả kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQTMT trong các nghiên cứu trước đây trên thế giới và tại Việt Nam chưa có sự đồng nhất khi áp dụng vào các bối cảnh ngành nghề khác nhau.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm:
- Mục tiêu chung: Xác định các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm tăng cường việc áp dụng KTQTMT tại các doanh nghiệp sản xuất điện ở Việt Nam.
- Mục tiêu cụ thể:
- Tổng hợp cơ sở lý luận về KTQTMT trong doanh nghiệp, làm rõ nội dung, các công cụ kỹ thuật và vai trò của KTQTMT trong quản trị doanh nghiệp.
- Đánh giá thực trạng áp dụng KTQTMT tại các doanh nghiệp sản xuất điện ở Việt Nam; phân tích trường hợp nghiên cứu điển hình tại Công ty nhiệt điện Thái Bình để làm rõ vai trò của KTQTMT trong kiểm soát chi phí và ra quyết định.
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng và kiểm định mức độ tác động của các nhân tố này đến việc áp dụng KTQTMT tại các doanh nghiệp sản xuất điện.
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị đối với doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhằm thúc đẩy áp dụng KTQTMT trong ngành điện.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động kế toán quản trị môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất điện.
- Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp sản xuất điện tại Việt Nam, trong đó nghiên cứu trường hợp điển hình được thực hiện tại Công ty nhiệt điện Thái Bình.
- Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu tổng quan ngành điện giai đoạn 2014–2022; khảo sát và thu thập dữ liệu thực trạng áp dụng KTQTMT tại các doanh nghiệp trong giai đoạn 2021–2023.
- Phạm vi nội dung: Thực trạng áp dụng các kỹ thuật KTQTMT (thước đo tiền tệ và vật chất) và kiểm định mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQTMT.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba hướng nghiên cứu chính:
Hướng thứ nhất: Nghiên cứu lý thuyết về nội dung và khuôn khổ KTQTMT.
- Birkin (1996) đặt nền móng khái niệm KTQTMT như một bước phát triển của kế toán quản trị truyền thống. Bouma và cộng sự (2003, 2013) cùng IFAC (2005) xác định KTQTMT là hệ thống cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính liên quan đến môi trường phục vụ việc ra quyết định.
- Burritt và cộng sự (2002) và Schaltegger & Burritt (2000) xây dựng khung phân tích toàn diện kết hợp hai chiều kích: thước đo tiền tệ (Monetary EMA - MEMA) và thước đo vật chất (Physical EMA - PEMA) theo khung thời gian ngắn hạn và dài hạn.
- Hướng dẫn của Ủy ban Phát triển Bền vững Liên Hợp Quốc (UNDSD, 2001) và Jasch (2003, 2008) chuẩn hóa hệ thống phân loại gồm 4 nhóm chi phí môi trường và 1 nhóm doanh thu môi trường.
- Tại Việt Nam, Nguyễn Mạnh Hiền (2008) và Lê Kim Ngọc (2013) giới thiệu các hướng dẫn kế toán môi trường quốc tế (như hướng dẫn của Bộ Môi trường Nhật Bản) và thảo luận về việc áp dụng các biểu mẫu báo cáo môi trường.
Hướng thứ hai: Nghiên cứu về các công cụ và phương pháp hạch toán KTQTMT.
- Senthil Kumaran và cộng sự (2001) phân tích mô hình chi phí vòng đời sản phẩm (LCC) tích hợp chi phí sinh thái.
- Dự án của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) tổng kết thực hành KTQTMT tại các nước châu Âu; Chang (2007) nghiên cứu mô hình KTQTMT trong các trường đại học tại Úc; Jasch, Ayres & Bernaudat (2010) khảo sát tại Honduras; Che Zuriana Muhammad Jamil và cộng sự (2014) khảo sát doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Malaysia.
- Lê Thị Minh Huệ (2020) khảo sát thực trạng kế toán quản trị chi phí môi trường tại 10 doanh nghiệp sản xuất ở tỉnh Thanh Hóa.
Hướng thứ ba: Nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc áp dụng KTQTMT.
- Nhóm nhân tố áp lực thể chế: DiMaggio & Powell (1983) phân loại ba dạng áp lực thể chế (cưỡng ép, quy chuẩn, học hỏi). Jalaludin và cộng sự (2011), Bennett (2011), Jamil và cộng sự (2015), Iredele & Ogunleye (2018), Avylin Roziana & Mohd Ariffin (2020) khẳng định vai trò của áp lực pháp lý và quy chuẩn nghề nghiệp đến việc triển khai KTQTMT. Phạm Đức Hiếu (2010) chỉ ra việc thiếu chế tài pháp lý cản trở áp dụng kế toán môi trường tại Việt Nam.
- Nhóm nhân tố nhận thức của nhà quản lý: Latan và cộng sự (2018), Setthasakko (2010), Wilmshurst & Frost (2001), Adams (2002), Lodhia (2003), Gale (2006) chỉ rõ nhận thức và cam kết của ban quản lý là yếu tố thúc đẩy hoặc rào cản chính. Nguyễn Thị Nga (2017) trong ngành thép và Nguyễn Thành Tài (2020) trong ngành dệt may tại Việt Nam cũng ghi nhận vai trò quyết định của ban lãnh đạo.
- Nhóm nhân tố chiến lược môi trường và biến động môi trường kinh doanh: Guenther và cộng sự (2016), Rodrigue (2013), Cadman (2017), Lewis & Harvey (2001), Soleimani & Majbouri (2019), Yusheng Kong và cộng sự (2022) chứng minh mối quan hệ giữa chiến lược chủ động bảo vệ môi trường, mức độ bất định của môi trường kinh doanh với mức độ vận dụng các kỹ thuật KTQTMT.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
Luận án định vị nghiên cứu vào khoảng trống về việc đánh giá thực trạng và kiểm định mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng đồng thời cả KTQTMT tiền tệ và vật chất trong bối cảnh cụ thể của các doanh nghiệp sản xuất điện tại Việt Nam – một ngành phát thải lớn nhưng chưa có công trình nghiên cứu hệ thống nào trước đó tiếp cận toàn diện theo các lý thuyết thể chế và ngẫu nhiên.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Các lý thuyết nền tảng
Luận án sử dụng 4 lý thuyết căn bản để xây dựng khung nghiên cứu và giải thích hiện tượng:
- Lý thuyết hợp pháp (Legitimacy Theory): Khởi nguồn từ Max Weber (1922) và phát triển bởi Deegan (2002). Hoạt động của doanh nghiệp cần đảm bảo "hợp đồng xã hội" với cộng đồng. Doanh nghiệp sản xuất điện áp dụng KTQTMT để chứng minh sự tuân thủ các chuẩn mực xã hội về môi trường nhằm duy trì tính hợp pháp cho sự tồn tại của mình.
- Lý thuyết về quá trình đổi mới (Diffusion of Innovations): Rogers (1962, 2003) phân tích cách thức các ý tưởng, công nghệ mới lan tỏa thông qua truyền thông, thời gian, đặc tính đổi mới và hệ thống xã hội. KTQTMT được xem là một sự đổi mới quản trị cần được truyền thông nội bộ và lãnh đạo tiếp nhận.
- Lý thuyết ngẫu nhiên (Contingency Theory): Phát triển từ Burns & Stalker (1961), Woodward (1965), Lawrence & Lorsch (1967), Perrow (1967) và Otley (1980). Hiệu quả hệ thống kế toán quản trị phụ thuộc vào sự phù hợp với các yếu tố ngữ cảnh: công nghệ sản xuất, nhận thức lãnh đạo, chiến lược và mức độ biến động của môi trường kinh doanh.
- Lý thuyết thể chế (Institutional Theory): Tiếp cận theo trường phái thể chế mới (DiMaggio & Powell, 1983; Scott, 1995; Peters, 2000). Luận án phân tích ba dạng áp lực từ môi trường bên ngoài: áp lực cưỡng ép (quy định pháp luật, chế tài của Nhà nước), áp lực quy chuẩn (chuẩn mực nghề nghiệp, đào tạo từ các hiệp hội) và áp lực học hỏi/bắt chước (mô phỏng các mô hình doanh nghiệp thành công).
Khung phân loại và phương pháp kỹ thuật KTQTMT
Luận án hệ thống hóa nội dung KTQTMT theo hai thước đo:
- KTQTMT tiền tệ: Thu thập và phân tích chi phí tiêu thụ tài nguyên, chi phí xử lý và phòng ngừa ô nhiễm, lập dự toán môi trường, phân bổ chi phí môi trường vào sản phẩm, đánh giá dự án đầu tư môi trường.
- KTQTMT vật chất: Theo dõi dòng chảy năng lượng, nước, nguyên vật liệu và chất thải; xây dựng các chỉ số hoạt động môi trường (EPIs); phân tích dòng cân bằng vật chất đầu vào – đầu ra.
Phân loại chi phí và doanh thu môi trường theo khung UNDSD (Jasch, 2008) được tổng hợp trong bảng sau:
| STT |
Phân loại |
Nội dung chi tiết |
| 1 |
Chi phí xử lý chất thải |
Khấu hao thiết bị xử lý cuối đường ống; bảo trì và vận hành; nhân công xử lý chất thải; thuế, phí môi trường; tiền phạt vi phạm; bảo hiểm rủi ro; dự phòng dọn dẹp môi trường. |
| 2 |
Chi phí ngăn ngừa rủi ro và quản lý môi trường |
Thuê dịch vụ tư vấn, quan trắc; nhân sự quản lý môi trường; nghiên cứu và phát triển (R&D) công nghệ sạch; chi phí duy trì hệ thống quản lý môi trường (EMS). |
| 3 |
Chi phí phân bổ cho đầu ra phi sản phẩm |
Giá trị mua sắm nguyên vật liệu thô, vật liệu phụ, bao bì, năng lượng, nước bị thất thoát hoặc biến thành phế thải, khí thải, xỉ thải trong quá trình vận hành. |
| 4 |
Chi phí tái chế |
Khấu hao hệ thống tái chế nội bộ, nhân công thu gom tái chế xỉ/nước thải, chi phí vận hành hoạt động tái sử dụng tài nguyên. |
| 5 |
Doanh thu môi trường |
Tiền bán tro xỉ, phế phẩm tái chế; các khoản tiền thưởng, trợ cấp môi trường từ cơ quan quản lý nhà nước. |
Luận án làm rõ bốn phương pháp kế toán chi phí môi trường:
- Kế toán chi phí trên cơ sở hoạt động (Activity-Based Costing - ABC).
- Kế toán chi phí dòng nguyên vật liệu (Material Flow Cost Accounting - MFCA).
- Kế toán chi phí đầy đủ (Full Cost Accounting - FCA).
- Kế toán chi phí vòng đời sản phẩm (Lifecycle Costing - LCC).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp định tính: Tiến hành phỏng vấn chuyên gia (giảng viên chuyên ngành kế toán, kiểm toán tại các trường đại học và các cán bộ quản lý tại doanh nghiệp sản xuất điện) nhằm hiệu chỉnh bảng hỏi khảo sát và xây dựng khung thang đo; phỏng vấn sâu để thu thập dữ liệu nghiên cứu trường hợp điển hình.
- Phương pháp định lượng:
- Khảo sát bằng bảng câu hỏi cấu trúc gửi tới các cán bộ quản lý (ban giám đốc, phòng kế toán, phòng kỹ thuật, phòng an toàn môi trường) tại các doanh nghiệp sản xuất điện tại Việt Nam trong giai đoạn 2021–2023.
- Sử dụng thang đo Likert 5 mức độ để đo lường các biến quan sát.
- Công cụ xử lý: Phần mềm SPSS và Excel.
- Kỹ thuật phân tích: Thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan Pearson và phân tích hồi quy đa biến.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị môi trường trong doanh nghiệp
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu học thuật quốc tế và trong nước liên quan đến KTQTMT. Tác giả phân chia bức tranh nghiên cứu thành ba luồng chính: nghiên cứu nội dung lý thuyết, nghiên cứu các kỹ thuật/công cụ tính toán chi phí, và nghiên cứu thực nghiệm các nhân tố tác động. Chương 1 làm rõ các kết quả nghiên cứu tiêu biểu của Burritt (2002), UNDSD (2001), IFAC (2005), DiMaggio & Powell (1983), Latan và cộng sự (2018), cùng các công trình tại Việt Nam của Lê Kim Ngọc (2013), Nguyễn Thị Nga (2017), Nguyễn Thành Tài (2020). Trên cơ sở đó, chương này xác lập 3 khoảng trống nghiên cứu chính và định hướng mô hình nghiên cứu cho ngành sản xuất điện.
Chương 2: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị môi trường trong doanh nghiệp
Chương 2 trình bày có hệ thống các khái niệm, vai trò và khuôn khổ của KTQTMT trong doanh nghiệp. Nội dung chương phân tích sâu 4 lý thuyết nền tảng (hợp pháp, đổi mới, ngẫu nhiên, thể chế); cấu trúc hai phân hệ KTQTMT tiền tệ và KTQTMT vật chất; bảng phân loại chi phí/doanh thu môi trường 5 nhóm theo UNDSD. Chương 2 phân tích chi tiết quy trình triển khai 4 phương pháp hạch toán: ABC (6 bước), MFCA (7 bước), FCA và LCC. Đồng thời, tác giả phân tích kinh nghiệm thực tiễn áp dụng KTQTMT tại Công ty Canon (Nhật Bản - áp dụng MFCA cho sản xuất ống kính) và Công ty hóa chất Nitrokémia 2000 (Hungary - phân tích chi phí môi trường và dòng nguyên liệu cho các sản phẩm Fumaric acid, Ferrous Fumarate, Phthalimide), từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp điện tại Việt Nam.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 xây dựng quy trình nghiên cứu hỗn hợp và thiết lập mô hình nghiên cứu. Các giả thuyết nghiên cứu được phát biểu dựa trên mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc (Mức độ áp dụng KTQTMT):
- Nhóm áp lực thể chế bên ngoài: Áp lực cưỡng ép, Áp lực quy chuẩn, Áp lực học hỏi.
- Nhóm nhân tố bên trong: Nhận thức của nhà quản lý cấp cao, Chiến lược môi trường của doanh nghiệp, Nhận thức về sự biến động của môi trường kinh doanh.
Chương này trình bày chi tiết cấu trúc bảng câu hỏi khảo sát, quy trình thử nghiệm qua ý kiến chuyên gia, phương pháp chọn mẫu, thu thập dữ liệu sơ cấp tại các doanh nghiệp phát điện (nhiệt điện than, nhiệt điện khí, thủy điện, năng lượng tái tạo) và quy trình xử lý dữ liệu qua Cronbach's Alpha, EFA và hồi quy đa biến.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 cung cấp bức tranh toàn diện về thị trường điện lực Việt Nam, đặc điểm phát điện và tác động môi trường.
- Kết quả thống kê mô tả: Phản ánh thực trạng nhận diện chi phí môi trường tại các doanh nghiệp điện; phần lớn doanh nghiệp chỉ mới nhận diện chi phí xử lý phát thải cuối đường ống theo quy định bắt buộc, tỷ lệ áp dụng MFCA, FCA và theo dõi dòng phi sản phẩm còn thấp.
- Kết quả kiểm định mô hình:
- Hệ số Cronbach's Alpha của các thang đo thành phần (Áp lực cưỡng ép, Áp lực quy chuẩn, Áp lực học hỏi, Nhận thức lãnh đạo cấp cao, Chiến lược môi trường, Biến động môi trường kinh doanh, Áp dụng KTQTMT) đều đạt độ tin cậy yêu cầu.
- Phân tích EFA trích xuất được các nhân tố phù hợp với cấu trúc lý thuyết đặt ra, kiểm định KMO và Bartlett đều có ý nghĩa thống kê.
- Kết quả phân tích hồi quy khẳng định các nhân tố thuộc nhóm áp lực thể chế (cưỡng ép, quy chuẩn, học hỏi) cùng với nhận thức của nhà quản lý cấp cao và chiến lược môi trường có tác động tích cực, có ý nghĩa thống kê đến mức độ áp dụng KTQTMT trong các doanh nghiệp sản xuất điện.
- Nghiên cứu điển hình tại Công ty nhiệt điện Thái Bình:
- Tác giả phân tích nguyên lý hoạt động và quy trình phát điện của nhà máy nhiệt điện Thái Bình.
- Thực hiện bóc tách, phân loại chi phí môi trường theo 4 loại: Chi phí xử lý phát thải (Loại 1), Chi phí phòng ngừa và quản lý môi trường (Loại 2), Chi phí tái chế (Loại 4) và Doanh thu môi trường (bán tro xỉ thô, thạch cao).
- So sánh báo cáo tài chính truyền thống và báo cáo theo KTQTMT: Báo cáo kế toán truyền thống gộp các chi phí môi trường vào chi phí sản xuất chung dẫn đến làm sai lệch giá thành thực tế của từng phân xưởng; trong khi áp dụng KTQTMT cho thấy rõ quy mô chi phí hao phí dòng nhiên liệu và chi phí bảo vệ môi trường, giúp ban lãnh đạo kiểm soát định mức tiêu hao than, dầu và tối ưu hóa việc tiêu thụ tro xỉ.
Chương 5: Giải pháp tăng cường áp dụng kế toán quản trị môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất điện
Dựa trên định hướng phát triển ngành điện lực và kết quả kiểm định định lượng, Chương 5 đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị cụ thể:
- Nhóm giải pháp nội bộ tại doanh nghiệp sản xuất điện:
- Nâng cao nhận thức và cam kết của ban lãnh đạo cấp cao đối với công tác quản trị môi trường; lồng ghép mục tiêu môi trường vào chiến lược kinh doanh dài hạn.
- Tổ chức hệ thống tài khoản và chứng từ kế toán chi tiết để bóc tách chi phí môi trường tiền tệ và theo dõi cân bằng vật chất đầu vào - đầu ra (than, dầu, nước, hóa chất xử lý).
- Từng bước áp dụng phương pháp ABC và MFCA để xác định chính xác các điểm thất thoát dòng vật chất trong các tổ máy phát điện.
- Nhóm kiến nghị đối với các bên liên quan:
- Đối với Chính phủ và cơ quan quản lý (Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường): Hoàn thiện hành lang pháp lý, ban hành hướng dẫn hạch toán kế toán môi trường thống nhất cho ngành sản xuất điện; hoàn thiện cơ chế thị trường mua bán phát thải và tiêu thụ tro xỉ.
- Đối với các cơ sở giáo dục, đào tạo: Đưa nội dung KTQTMT vào chương trình đào tạo chuyên ngành kế toán, kiểm toán và quản trị kinh doanh.
- Đối với các hiệp hội nghề nghiệp (Hiệp hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam, Hiệp hội Năng lượng): Tổ chức các khóa đào tạo chuyên môn, chia sẻ mô hình thực hành KTQTMT tiêu chuẩn cho các hội viên.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt học thuật và lý luận
- Hệ thống hóa và hoàn thiện khung lý thuyết toàn diện về KTQTMT trong doanh nghiệp sản xuất điện, tích hợp hai chiều kích đo lường tiền tệ và vật chất cùng các phương pháp hạch toán hiện đại (ABC, MFCA, FCA, LCC).
- Xây dựng và kiểm định thành công mô hình lý thuyết giải thích việc áp dụng KTQTMT dựa trên sự kết hợp của 4 lý thuyết: lý thuyết hợp pháp, lý thuyết về quá trình đổi mới, lý thuyết ngẫu nhiên và lý thuyết thể chế mới.
- Xác định rõ mối quan hệ tác động tích cực cùng chiều của các nhân tố bên trong (nhận thức của nhà quản lý cấp cao, chiến lược môi trường) và các nhân tố bên ngoài (áp lực cưỡng ép, áp lực quy chuẩn, áp lực học hỏi) đến mức độ thực hành KTQTMT tại các doanh nghiệp sản xuất điện ở Việt Nam.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Phản ánh bức tranh thực trạng triển khai KTQTMT tại các doanh nghiệp sản xuất điện ở Việt Nam trong giai đoạn 2021–2023, chỉ ra những hạn chế trong việc nhận diện chi phí môi trường ẩn và dòng phi sản phẩm.
- Thiết kế mô hình ứng dụng thử nghiệm KTQTMT tại Công ty nhiệt điện Thái Bình; xây dựng bảng so sánh thực nghiệm giữa báo cáo kế toán truyền thống và báo cáo KTQTMT, chứng minh khả năng bóc tách chi phí phát thải và ghi nhận doanh thu từ phụ phẩm (tro xỉ).
- Đề xuất hệ thống giải pháp phân cấp cụ thể cho nội bộ doanh nghiệp sản xuất điện và các kiến nghị chính sách cho Chính phủ, Bộ ban ngành, cơ sở đào tạo và hiệp hội nghề nghiệp nhằm thúc đẩy lộ trình chuyển đổi xanh trong ngành năng lượng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu vào các doanh nghiệp sản xuất điện, do đó kết quả định lượng có thể chưa bao quát hoàn toàn cho các phân ngành năng lượng khác (như truyền tải hoặc phân phối điện).
- Nghiên cứu trường hợp điển hình mới chỉ thực hiện chuyên sâu tại một đơn vị đại diện cho nhiệt điện than (Công ty nhiệt điện Thái Bình), chưa so sánh đối ứng chi tiết với các loại hình phát điện khác như thủy điện hay điện mặt trời, điện gió.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi khảo sát định lượng sang các phân ngành khác trong chuỗi cung ứng năng lượng và các ngành công nghiệp nặng có phát thải lớn (như xi măng, hóa chất).
- Nghiên cứu so sánh chuyên sâu việc áp dụng KTQTMT giữa các loại hình công nghệ phát điện khác nhau (nhiệt điện than, nhiệt điện khí, thủy điện, năng lượng tái tạo).
- Khảo sát tác động trực tiếp của mức độ áp dụng KTQTMT đến hiệu quả tài chính và chỉ số kết quả hoạt động môi trường (CEP) của doanh nghiệp trong dài hạn.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành: Cung cấp cơ sở lý thuyết chuẩn hóa về KTQTMT, phương pháp phân loại chi phí môi trường theo UNDSD, quy trình thực hiện MFCA/ABC và quy trình nghiên cứu kết hợp định tính - định lượng xử lý trên SPSS.
- Lãnh đạo và kiểm soát viên, kế toán trưởng các doanh nghiệp sản xuất điện: Cung cấp phương pháp bóc tách chi phí môi trường ra khỏi chi phí sản xuất chung, phương pháp thiết lập báo cáo phân tích dòng năng lượng/vật chất và các biểu mẫu báo cáo chi phí - doanh thu môi trường để hỗ trợ định giá và kiểm soát giá thành phát điện.
- Nhà hoạch định chính sách (Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương): Cung cấp dữ liệu thực chứng phục vụ việc ban hành thông tư hướng dẫn hạch toán kế toán môi trường và hoàn thiện khung pháp lý về quản trị môi trường doanh nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Kế toán quản trị môi trường trong luận án được cấu thành từ những phân hệ và hạng mục phân loại nào?
KTQTMT được cấu thành từ hai phân hệ: KTQTMT tiền tệ (MEMA) và KTQTMT vật chất (PEMA). Theo khung chuẩn hóa của UNDSD (Jasch, 2008), chi phí và doanh thu môi trường được phân loại thành 5 hạng mục:
- Chi phí xử lý chất thải (khấu hao thiết bị xử lý, vận hành, nhân lực, thuế/phí/tiền phạt môi trường).
- Chi phí ngăn ngừa rủi ro và quản lý môi trường (tư vấn, nhân sự quản lý, R&D công nghệ sạch).
- Chi phí phân bổ cho đầu ra phi sản phẩm (nguyên vật liệu thô, phụ, năng lượng, nước thất thoát thành chất thải).
- Chi phí tái chế (khấu hao và vận hành hệ thống tái sử dụng nội bộ).
- Doanh thu môi trường (tiền bán tro xỉ, phế phẩm tái chế, trợ cấp môi trường).
2. Vì sao ngành sản xuất điện tại Việt Nam cần áp dụng KTQTMT?
Khâu phát điện chiếm gần 80% cơ cấu giá thành sản xuất điện, phần lớn là chi phí nhiên liệu (than, khí). Sản xuất điện phát sinh lượng phát thải lớn tác động nghiêm trọng đến hệ sinh thái. Việc áp dụng KTQTMT giúp nhận diện các chi phí môi trường ẩn, theo dõi tổn thất nhiên liệu trong dòng phi sản phẩm, tối ưu hóa phân bổ chi phí chung vào giá thành và cung cấp thông tin chuẩn xác cho việc ra quyết định trong thị trường điện cạnh tranh.
3. Những nhân tố nào có tác động cùng chiều đến việc áp dụng KTQTMT tại các doanh nghiệp sản xuất điện?
Kết quả kiểm định định lượng của luận án chứng minh các nhóm nhân tố sau có tác động tích cực (cùng chiều) đến mức độ áp dụng KTQTMT:
- Nhóm nhân tố bên trong: Nhận thức và cam kết của nhà quản lý cấp cao; Chiến lược môi trường của doanh nghiệp.
- Nhóm nhân tố bên ngoài (áp lực thể chế): Áp lực cưỡng ép (quy định pháp luật, chế tài); Áp lực quy chuẩn (chuẩn mực đào tạo, hiệp hội kế toán); Áp lực học hỏi (mô phỏng mô hình thành công của các doanh nghiệp cùng ngành).
4. Điểm khác biệt cơ bản giữa báo cáo kế toán truyền thống và báo cáo KTQTMT tại Công ty nhiệt điện Thái Bình là gì?
Trong kế toán truyền thống, các khoản chi phí liên quan đến môi trường (như xử lý nước thải, bảo dưỡng hệ thống khử lưu huỳnh FGD, lọc bụi tĩnh điện ESP, chi phí quan trắc) bị gộp chung vào tài khoản chi phí sản xuất chung hoặc chi phí quản lý, khiến ban lãnh đạo không thấy được quy mô thực tế của chi phí môi trường trên mỗi kWh điện. Báo cáo theo KTQTMT bóc tách rõ từng loại chi phí môi trường (Loại 1, Loại 2, Loại 4), đo lường hao phí nguyên vật liệu đầu vào và hạch toán riêng doanh thu từ việc bán phụ phẩm tro xỉ, thạch cao.
5. Luận án đã phân tích bốn phương pháp kế toán chi phí môi trường nào?
Bốn phương pháp kế toán được luận án trình bày chi tiết gồm:
- Kế toán chi phí dựa trên hoạt động (ABC): Phân bổ chi phí môi trường gián tiếp vào các đối tượng tính giá thông qua các hoạt động và kích tố chi phí.
- Kế toán chi phí dòng nguyên vật liệu (MFCA): Đo lường dòng chảy và tổn thất vật chất qua các trung tâm chi phí để tính toán chi phí đầu ra sản phẩm và đầu ra phi sản phẩm.
- Kế toán chi phí đầy đủ (FCA): Tích hợp cả chi phí nội bộ và các chi phí ngoại ứng môi trường bên ngoài vào hệ thống tính toán.
- Kế toán chi phí vòng đời sản phẩm (LCC): Đánh giá tổng chi phí môi trường phát sinh trong toàn bộ vòng đời sản phẩm "từ cái nôi đến nấm mồ".
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Trà My đã xây dựng hệ thống cơ sở lý luận toàn diện về kế toán quản trị môi trường và kiểm định thực nghiệm mô hình các nhân tố tác động đến việc áp dụng công cụ này tại các doanh nghiệp sản xuất điện ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của cả phân hệ tiền tệ và vật chất, đồng thời chứng minh các áp lực thể chế bên ngoài cùng với nhận thức của ban lãnh đạo và chiến lược môi trường nội bộ là các động lực then chốt thúc đẩy thực hành KTQTMT. Nghiên cứu điển hình tại Công ty nhiệt điện Thái Bình minh chứng rõ nét khả năng kiểm soát chi phí nguyên nhiên liệu và minh bạch hóa thông tin tài chính - môi trường khi chuyển đổi từ kế toán truyền thống sang KTQTMT. Hệ thống giải pháp và kiến nghị được đề xuất trong luận án có giá trị ứng dụng thực tế cao, đóng góp thiết thực cho quá trình quản trị chi phí và chuyển dịch năng lượng bền vững của ngành điện Việt Nam.