Những nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán quản trị môi trường tại dn nhỏ và vừa ở việt nam

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán quản trị môi trường tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. Giải pháp thúc đẩy áp dụng EMA.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng kết đề tài

2021

152
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

0.2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

0.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

0.4. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

0.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

0.6. KHUNG NGHIÊN CỨU

0.7. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

0.8. BỐ CỤC ĐỀ TÀI

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu

1.2. Nghiên cứu trên thế giới

1.3. Nghiên cứu trong nước

1.4. Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện EMA

1.5. Các nhân tố thuộc “lý thuyết thể chế”

1.6. Các nhân tố thuộc “bối cảnh tổ chức”

1.7. Khoảng trống nghiên cứu

1.8. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ EMA TẠI CÁC DN NHỎ VÀ VỪA

2.1. Khái quát về DN nhỏ và vừa

2.2. Tiêu chí xác định

2.3. Môi trường và quản lý hoạt động MT

2.4. Lịch sử ra đời và phát triển của EMA

2.5. Khái niệm và vai trò của EMA

2.6. Đối tượng của EMA

2.7. Các loại thông tin của EMA

2.8. Nội dung của EMA

2.9. Phương pháp xác định, xử lý CPMT và doanh thu MT

2.10. Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định áp dụng EMA

2.11. Các lý thuyết có liên quan

2.11.1. “Lý thuyết thể chế”

2.11.2. “Lý thuyết ngẫu nhiên”

2.12. Những hạn chế của kế toán truyền thống và lợi ích của EMA

2.12.1. Những hạn chế của kế toán truyền thống

2.12.2. Lợi ích của EMA

2.13. Quá trình thực hiện EMA

2.14. Việc áp dụng EMA tại nước ngoài và ở VN

2.14.1. EMA tại nước ngoài

2.14.2. Kinh nghiệm áp dụng EMA tại VN

2.15. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

3.1. Phương pháp nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu định tính

3.3. Phương pháp nghiên cứu định lượng

3.4. Thiết kế nghiên cứu

3.5. Mô hình nghiên cứu

3.6. Giả thuyết nghiên cứu

3.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Khái quát chung

4.2. Kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha

4.2.1. Với biến phụ thuộc EMA

4.2.2. Với biến độc lập APLCE

4.2.3. Với biến độc lập APLQC

4.2.4. Với biến độc lập APLMP

4.2.5. Với biến độc lập MTKD

4.2.6. Với biến độc lập CLMT

4.2.7. Với biến độc lập PTAPNV

4.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA

4.3.1. Với biến độc lập

4.3.2. Với biến phụ thuộc

4.4. Phân tích sự tương quan Person

4.5. Mô hình hồi quy đa biến

4.6. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu

4.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: THỰC TRẠNG VÀ KHUYẾN NGHỊ THÚC ĐẨY ÁP DỤNG EMA TẠI CÁC DN NHỎ VÀ VỪA Ở VN

5.1. Thực trạng hiện nay ở VN

5.2. Về phía nhà nước

5.3. Về phía DN nhỏ và vừa

5.4. Về nhân tố “Áp lực cưỡng ép”

5.5. Về nhân tố “Áp lực quy chuẩn”

5.6. Về nhân tố “Áp lực mô phỏng”

5.7. Về nhân tố “Môi trường kinh doanh”

5.8. Về nhân tố “Chiến lược MT”

5.9. Về nhân tố “Sự phức tạp của nhiệm vụ”

5.10. KẾT LUẬN CHƯƠNG 5

KẾT LUẬN CHUNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. KTQTMT tại DNNVV Việt Nam Tổng quan và tầm quan trọng

Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng, phát triển kinh tế cần song hành với bảo vệ môi trường. Kế toán Quản trị Môi trường (KTQTMT) đóng vai trò quan trọng trong việc giúp DNNVV Việt Nam đạt được mục tiêu phát triển bền vững. Khách hàng ngày càng quan tâm đến các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường, tạo áp lực cho doanh nghiệp phải chú trọng hơn đến các vấn đề môi trường. Việc áp dụng KTQTMT giúp doanh nghiệp kiểm soát chi phí, tăng lợi nhuận, nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường. Nhiều quốc gia và công ty trên thế giới đã gặt hái thành công từ việc áp dụng KTQTMT. Vì vậy, đây là một công cụ không thể thiếu và cần được DNNVV áp dụng rộng rãi.

1.1. Vai trò của KTQTMT trong phát triển bền vững DNNVV

KTQTMT giúp DNNVV tiết kiệm chi phí, đánh giá tác động môi trường, và đưa ra quyết định kinh doanh tối ưu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ngày càng phải đối mặt với áp lực từ thị trường và quy định pháp luật để giảm thiểu tác động đến môi trường. KTQTMT cung cấp thông tin quan trọng để quản lý hiệu quả các hoạt động liên quan đến môi trường. Thực hành KTQTMT giúp DNNVV giảm chi phí nguyên vật liệu, năng lượng, và xử lý chất thải. Việc áp dụng KTQTMT giúp DNNVV nâng cao hình ảnh và uy tín trong mắt khách hàng, nhà đầu tư, và cộng đồng.

1.2. Lịch sử phát triển và ứng dụng KTQTMT trên thế giới

KTQTMT xuất hiện lần đầu vào năm 1972 tại Mỹ sau Hội nghị thượng đỉnh về môi trường tại Stockholm, Thụy Điển. Đến những năm 1990, KTQTMT mới được chú ý và phát triển mạnh mẽ, có tầm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của KTQTMT trên các quốc gia khác. Anh là một trong những nước đi đầu trong việc áp dụng KTQTMT, xây dựng hệ thống luật bao gồm: “Luật chính sách về môi trường quốc gia, Luật tái chế rác thải, Luật làm sạch môi trường,…”. Nhật Bản là nước đi sau trong việc nghiên cứu và sử dụng KTQTMT ở châu Á.

II. Thách thức áp dụng KTQTMT tại DNNVV Việt Nam hiện nay

Tại Việt Nam, KTQTMT còn khá mới mẻ và chưa được áp dụng rộng rãi, đặc biệt là ở DNNVV. Việc tiếp cận với phương pháp này còn nhiều khó khăn, thậm chí xa lạ đối với nhiều doanh nghiệp. Điều này đặt ra những thách thức lớn về nhận thức, năng lực, và nguồn lực để triển khai KTQTMT hiệu quả. Nghiên cứu này tập trung vào việc tìm hiểu những hạn chế, các chính sách cần đưa ra để áp dụng rộng rãi KTQTMT trong DNNVV. Từ đó, đưa ra mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thúc đẩy KTQTMT trong DNNVV, đề xuất các biện pháp để thúc đẩy KTQTMT tại các DNNVV ở Việt Nam.

2.1. Rào cản nhận thức và năng lực về KTQTMT tại DNNVV

Nhiều DNNVV Việt Nam chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và lợi ích của KTQTMT. Thiếu kiến thức và kỹ năng về KTQTMT là một trong những rào cản lớn nhất. Năng lực KTQTMT hạn chế khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thu thập, phân tích, và sử dụng thông tin môi trường. Cần có các chương trình đào tạo và tư vấn để nâng cao nhận thức môi trườngnăng lực KTQTMT cho DNNVV.

2.2. Thiếu nguồn lực và chính sách hỗ trợ KTQTMT

DNNVV thường gặp khó khăn về nguồn lực tài chính và nhân lực để đầu tư vào KTQTMT. Các chính sách hỗ trợ từ nhà nước về KTQTMT còn hạn chế. Cần có các chính sách khuyến khích, hỗ trợ tài chính, và kỹ thuật để thúc đẩy DNNVV áp dụng KTQTMT. Tạo điều kiện tiếp cận thông tin, công nghệ, và kinh nghiệm quốc tế về KTQTMT.

III. Các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng KTQTMT Nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học về KTQTMT tại DNNVV Việt Nam tập trung vào xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQTMT. Các yếu tố này có thể chia thành nhóm yếu tố bên trong doanh nghiệp và nhóm yếu tố bên ngoài doanh nghiệp. Việc xác định rõ các yếu tố này giúp doanh nghiệp và nhà nước có những giải pháp phù hợp để thúc đẩy KTQTMT.

3.1. Yếu tố bên trong Chiến lược môi trường và năng lực KTQTMT

Chiến lược môi trường của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy KTQTMT. Doanh nghiệp có chiến lược môi trường rõ ràng sẽ có động lực và nguồn lực để đầu tư vào KTQTMT. Năng lực KTQTMT của nhân viên kế toán cũng là một yếu tố quan trọng. Nhân viên kế toán có kiến thức và kỹ năng về KTQTMT sẽ giúp doanh nghiệp triển khai KTQTMT hiệu quả hơn.

3.2. Yếu tố bên ngoài Quy định môi trường và áp lực từ thị trường

Quy định môi trường của nhà nước có tác động lớn đến việc áp dụng KTQTMT của doanh nghiệp. Các quy định chặt chẽ về môi trường sẽ tạo áp lực cho doanh nghiệp phải chú trọng đến KTQTMT. Áp lực môi trường từ khách hàng, nhà đầu tư, và cộng đồng cũng là một yếu tố quan trọng. Doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu về môi trường để duy trì lợi thế cạnh tranh.

IV. Phương pháp nghiên cứu KTQTMT và mô hình đánh giá tác động

Nghiên cứu này sử dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến KTQTMT tại DNNVV Việt Nam. Phương pháp định tính được sử dụng để thu thập thông tin từ các chuyên gia và doanh nghiệp. Phương pháp định lượng được sử dụng để phân tích dữ liệu khảo sát và đánh giá tác động của các yếu tố.

4.1. Phương pháp định tính Phỏng vấn chuyên gia và phân tích tài liệu

Phỏng vấn sâu các chuyên gia về KTQTMT để thu thập thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng KTQTMT tại DNNVV Việt Nam. Phân tích các tài liệu liên quan đến KTQTMTDNNVV để xây dựng cơ sở lý luận cho nghiên cứu. Tổng quan các lý thuyết và nghiên cứu về KTQTMT qua đó xác định được khoảng trống nghiên cứu.

4.2. Phương pháp định lượng Khảo sát và phân tích thống kê

Tiến hành khảo sát các DNNVV Việt Nam để thu thập dữ liệu về việc áp dụng KTQTMT. Sử dụng phần mềm SPSS để phân tích dữ liệu khảo sát và đánh giá tác động của các yếu tố.Thông qua kết quả khảo sát: “tập hợp và mã hóa dữ liệu. Sử dụng phần mềm SPSS 20 để tiến hành kiểm định độ tin cậy của thang đo, sau đó tìm ra các biến có độ tin cậy thỏa mãn các điều kiện kiểm định và loại bỏ các biến không phù hợp”.

V. Thực trạng và khuyến nghị thúc đẩy KTQTMT ở DNNVV Việt Nam

Thực trạng áp dụng KTQTMT tại DNNVV Việt Nam còn nhiều hạn chế. Cần có các giải pháp đồng bộ từ nhà nước, doanh nghiệp, và các tổ chức liên quan để thúc đẩy KTQTMT. Các khuyến nghị tập trung vào nâng cao nhận thức, hỗ trợ nguồn lực, hoàn thiện chính sách, và phát triển năng lực.

5.1. Khuyến nghị cho nhà nước Chính sách hỗ trợ và quy định rõ ràng

Xây dựng và ban hành các chính sách khuyến khích DNNVV áp dụng KTQTMT. Cung cấp hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho DNNVV để triển khai KTQTMT. Hoàn thiện hệ thống quy định môi trường và tăng cường giám sát thực thi. Nâng cao nhận thức về KTQTMT cho cộng đồng và doanh nghiệp.

5.2. Khuyến nghị cho DNNVV Đầu tư vào KTQTMT và phát triển năng lực

Nhận thức rõ tầm quan trọng và lợi ích của KTQTMT. Xây dựng chiến lược môi trường và tích hợp KTQTMT vào hoạt động kinh doanh. Đầu tư vào đào tạo và phát triển năng lực KTQTMT cho nhân viên. Hợp tác với các tổ chức tư vấn và hỗ trợ về KTQTMT. Thể hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) thông qua báo cáo môi trường minh bạch.

VI. Tương lai KTQTMT tại DNNVV Xu hướng và cơ hội phát triển

Xu hướng phát triển bền vững và kế toán xanh sẽ thúc đẩy KTQTMT tại DNNVV Việt Nam. Các doanh nghiệp cần chủ động nắm bắt cơ hội và chuẩn bị cho tương lai. KTQTMT không chỉ là một công cụ quản lý mà còn là một lợi thế cạnh tranh.

6.1. Xu hướng kế toán xanh và phát triển bền vững

Xu hướng kế toán xanh và phát triển bền vững ngày càng được quan tâm trên toàn thế giới. DNNVV cần thích ứng với xu hướng này để duy trì lợi thế cạnh tranh. KTQTMT là một công cụ quan trọng để thực hiện kế toán xanh và phát triển bền vững.

6.2. Cơ hội cho DNNVV Nâng cao hiệu quả và tạo lợi thế cạnh tranh

KTQTMT mang lại nhiều cơ hội cho DNNVV, bao gồm nâng cao hiệu quả hoạt động, giảm chi phí, tăng doanh thu, cải thiện hình ảnh, và tạo lợi thế cạnh tranh. Các doanh nghiệp tiên phong trong KTQTMT sẽ có lợi thế lớn trong tương lai.

26/04/2025
Những nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán quản trị môi trường tại dn nhỏ và vừa ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Theo Welford (1998) “ngày càng có nhiều doanh nghiệp, tổ chức thấy rằng việc tối đa hóa lợi nhuận không còn cách hoạt động hiệu quả nhất của doanh nghiệp cũng như duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh của họ”. Ta có bảng thống kê số liệu việc áp dụng EMA của các thành viên UN (2007) như sau: Bảng 1.1 Áp dụng EMA của các thành viên UN Số các Chương trình EMA nước Số nước Tỷ lệ % Tất cả các thành viên của UN 192 49 25.5% Các khu vực kinh tế: - Khu vực đang phát triển 154 20 13% - Khu vực phát triển 38 29 76.3% Gộp nhóm theo nền kinh tế: - Nền kinh tế đang phát triển 136 19 14% - Nền kinh tế chuyển đổi 19 3 15.8% - Nền kinh tế phát triển 37 27 73% Gộp nhóm theo khu vực địa lý: - Châu Âu, Bắc Mỹ 45 26 57.8% - Trung Á, Nam Á, Đông Á, ĐNA 30 7 23.4% - Châu Đại Dương 14 4 28.6% - Châu Mỹ La tinh, vùng vịnh 33 4 12% Caribean (Nguồn: Bùi Thị Thu Thủy, 2007) Nhận xét: Tại năm 2007 thì toàn cầu có 49 nước thực hiện EMA chiếm 25.5% trong tổng số nước trong LHQ. Trong đó, khu vực kinh tế phát triển chiếm tỷ lệ cao 8 76.3% gấp nhiều lần so với các nước đang phát triển là 13%.

Tương ứng là các nước Châu Âu, Bắc Mỹ chiếm tỷ lệ cao nhất 73%. Nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới đã từng có rất nhiều công trình nghiên cứu về EMA. Vào năm 1995, Deegan và cộng sự “đã đưa ra báo cáo về kết quả nghiên cứu EMA ở Australia. Kết quả cho thấy tại Australia có sự thiếu nhất trí về vấn đề MT và không đồng thuận cho rằng các vấn đề MT là cần được đưa vào BCTC”.

Brown và Deegan (1998) đã thực hiện việc kiểm tra việc công khai các thông tin về hiệu quả của hoạt động MT dựa theo 2 cơ sở lý thuyết: “cơ chế truyền thống và hợp pháp”, trong đó 9 ngành công nghiệp được xem xét trong giai đoạn từ năm 1981- 1994. Tác giả lập luận rằng “phương tiện truyền thông sẽ làm cho vấn đề môi trường đươc quan tâm hơn, qua đó đưa ra vấn đề thông tin về môi trường trong báo cáo hàng năm. Mức độ quan tâm truyền thông cao hơn thì việc sử dụng thông tin môi trường”. Tuy nhiên, bài nghiên cứu cũng có một số hạn chế như phương tiện truyền thống hạn chế về tính sẵn có, không xác định được đâu mới là nguồn thông tin có tầm ảnh hưởng lớn, mới chỉ chú ý đến các sự kiện cụ thể mà không đề cập đến thông tin MT.

Cũng vào năm 1998 bài nghiên cứu của Verschoor đã đề cập đến mối quan hệ giữa tài chính của các công ty với vấn đề MT: “tìm ra được mối liên hệ giữa mối quan hệ trên được coi như là một phần trong khía cạnh của quản trị DN, với 26,8% trong tổng số 500 công ty lớn nhất tại Mỹ đã tuân thủ và cam kết các quy tắc về các quy định của môi trường”. Vào năm 2000 bài nghiên cứu về thực trạng và tiềm năng của việc thực hiện EMA của 84 công ty tại Đức, Hà Lan, Ý, Anh về ngành hóa chất, ngành in, năng lượng và dược phẩm của Bartolomeo và cộng sự. Bài nghiên cứu đã đưa ra kết quả cho thấy rằng “tại các công ty ở Châu Âu đã quan tâm đến EMA nhưng mới chỉ ở mức vừa phải, tuy nhiên đang có xu hướng tăng lên theo thời gian. Đa số các công ty đã có chiến lược MT riêng và hơn ½ số công ty đã có hệ thống quản lý MT”.

Kết quả đã chỉ ra rằng các công ty quan tâm nhiều đến việc kiểm soát ô nhiễm tuy nhiên còn hạn chế trong việc ra quyết định ngắn hạn, thực hiện việc phân bổ CPMT. Vấn đề EMA được Frost và Wilmshurst (2000) đề cập đến trong lĩnh vực kinh doanh của 121 công ty lớn được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tại Úc: “so 9 sánh các công ty trong lĩnh vực công nghiệp quan tâm với môi trường và những công ty ít quan tâm tới môi trường, kết quả đã chỉ ra sự khác biệt đáng kể đối với việc thực hiện EMA trong các lĩnh vực liên quan đến việc xử lý ô nhiễm và ô nhiêm MT”. Bài nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng các công ty trong lĩnh vực công nghiệp rất nhạy cảm với MT và nhận thức được nhiều vấn đề về chi phí MT. Frost và Seamer (2002) đã thực hiện phân tích hoạt động quản lý, báo cáo về MT thuộc khu vực công tại New South Wales (Australia).

Tác giả đã khảo sát 35 nhà quản lý khu vực công, qua đó cho biết “½ số đơn vị trong khảo sát này đã xây dựng cho mình một CLMT riêng, họ thực hiện dịch vụ công gắn liền với MT thông qua việc công bố mức độ thông tin MT. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã phát hiện ra các mối quan hệ cùng chiều giữa các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực nhạy cảm với môi trường với các đơn vị có quy mô hơn về việc thực hiện hệ thống QLMT”. Masanet Llodra (2006) thực hiện nghiên cứu sâu về mối quan hệ giữa chiến lược đổi mới với việc thực hiện EMA của công ty ngành gạch men: “Kết quả đưa ra được chỉ số MT khi thực hiện EMA đã đem lại sự cải thiện trong kinh doanh, chiến lược chung của công ty chính là đầu tư vào MT”. Nghiên cứu phát hiện ra rằng các công ty không có sự quan tâm trong việc tiết lộ thông tin MT trong các BCTC mỗi năm.

Mặc dù, công ty cam kết với bên liên quan về việc thông bố thông tin MT tuy nhiên mới chỉ dừng ở mức khẩu hiệu mà thực tế việc công bố thông tin MT không được công khai, công ty chỉ phản hồi đặc biết thay vù cung cấp số lượng thông tin một cách tổng quát. Burritt và Saka (2006) nghiên cứu về ứng dụng EMA và hiệu quả sinh thái dựa theo việc khảo sát 6 công ty tại Nhật Bản: “Bài nghiên cứu đã chỉ ra được chỉ số sinh thái và hiệu quả sinh thái của các công ty đó, tuy nhiên việc áp dụng sử dụng EMA vẫn còn hạn chế và phải thúc đấy mạnh hơn”. Bài nghiên cứu “Enviromental management accounting within universities: current state and future potential” Chang (2007) đã khám phá ra được những yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng EMA bao gồm: “thái độ, thông tin, thể chế và quản lý trong giáo dục đại học”. Năm 2008, bài nghiên cứu của Kokubu và Nashioka đã tiến hành nghiên cứu EMA tại 75 công ty mẹ cùng với 255 công ty con thuộc ngành sản xuất tại Nhật Bản.

10 Sự phát triển của EMA của công ty con được thúc đẩy bởi công ty mẹ, trong đó “công ty mẹ quan tâm đến mục đích công bố thông tin MT hơn là việc quản lý nội bộ và hầu hết đều đã tuân thủ thực hiện theo các văn bản quy định hướng dẫn việc thực hiện EMA trong công ty”. Tương tự với bài nghiên cứu của Setthasakko (2010) cho rằng nhân tố ảnh hưởng đến EMA gồm: “vai trò của nhà quản trị, chia sẻ kiến thức, xây dựng hình ảnh công ty trong công ty sản xuất giấy và bột giấy”. Nhân tố tác động tới việc áp dụng EMA còn là “kiến thức, kỹ năng và sự hướng dẫn” được Jalaludin & cộng sự (2011) nêu ra trong tác phẩm của mình. Ngoài ra tại Australia, với bài nghiên cứu “Environmental management accouting: the signficance of contigency variables for adoption” Christ & Buritt (2013) đã đưa ra được nhân tố ảnh hưởng đến EMA như: “cấu trúc tổ chức, quy mô tổ chức, chiến lược môi trường, ngành công nghiệp tác động cùng chiều đến việc thực hiện EMA”.

Các nhân tố ảnh hưởng đến EMA bao gồm: “quy mô công ty, chiến lược môi trường, trình độ công nghệ, thời gian hoạt động, thành quả tài chính, chi phí tuân thủ các quy định môi trường” được Wachira (2014) nêu ra trong việc phân tích đến việc áp dụng EMA tại các doanh nghiệp sản xuất qua bài nghiên cứu “Factors influencing the adoption of environmental management accouting Practices among firms in Nairobi, Kenya”. Mohamed, Muhammed & Ali (2015) cũng đã đưa ra 3 biến độc lập ảnh hưởng tới việc áp dụng EMA như: “áp lực cưỡng chế, áp lực mô phỏng, áp lực quy chuẩn” qua việc phân tích và sử dụng dữ liệu thu thập được qua bảng câu hỏi khảo sát trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, và các nghiên cứu khác như của Phanetal (2017), … 1. Nghiên cứu trong nước Ở VN, EMA còn khá xa lạ, có rất ít các công trình nghiên cứu tới nó, tiêu biểu với một số công trình sau như Phạm Thị Bích Chi và cộng sự (2006) đã nghiên cứu đến việc “vận dụng EMA trong các DN” vẫn còn rất ít. Kết quả nghiên cứu này đưa ra các phương pháp hạch toán cũng như vấn đề EMA trong các DN.

Với bài nghiên cứu của Nguyễn Ánh Tuyết và Nguyễn Chí Quang cũng đã “phân tích vấn đề cơ cấu giá 11 thành sản phẩm của công ty Machino”, qua đó nghiên cứu chỉ ra vấn đề về việc áp dụng sử dụng EMA tại các DN sản xuất ở Việt Nam. Trịnh Hiệp Thiện (2010) với bài nghiên cứu: “Vận dụng EMA vào các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam”. Đề tài đã đề cập đến vấn đề về “các yếu tố ảnh hưởng tới EMA như sự thiếu hiểu biết của nhà quản trị cấp cao, hay việc thiếu kinh nghiệm,… qua đó chỉ ra việc vận dụng EMA tại VN còn nhiều khó khăn cả về thông tin số lượng và cả về chi phí thực hiện, nhấn mạnh được những thách thức, sự thuận lợi và khó khăn trong quá trình vận dụng EMA tại VN”. Bùi Thị Thu Thủy (2010) đã dựa trên cơ sở lý luận nghiên cứu đưa ra đề xuất “thực trạng CPMT trong các DN thuộc lĩnh vực khai thác than tại Việt Nam”, qua đó đưa ra mô hình quản lý và hạch toán CPMT.

Tuy nhiên, bài nghiên cứu vẫn chưa vận dụng được triệt để các công cụ của EMA bao gồm: “kế toán CP theo mức độ hoạt động trong việc xác định EMA và kế toán CP theo dòng vật liệu”. Hoàng Thị Bích Ngọc (2014) đã thực hiện nghiên cứu “EMA tại Nhật Bản qua đó đưa ra bài học cho các DN tại Việt Nam” kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được “EMA thường được áp dụng các DNSX có quy mô lớn, và để thực hiện áp dụng được tốt EMA cần có sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng thông qua các quy định, văn bản hướng dẫn”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tóm tắt nghiên cứu "Nghiên cứu Khoa học: Các yếu tố ảnh hưởng đến Kế toán Quản trị Môi trường tại DNNVV Việt Nam" khám phá những yếu tố then chốt tác động đến việc áp dụng kế toán quản trị môi trường (KTQTM) trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ở Việt Nam. Nghiên cứu có thể tập trung vào các yếu tố như nhận thức của ban quản lý, nguồn lực tài chính, quy định pháp luật, áp lực từ các bên liên quan (khách hàng, nhà cung cấp, cộng đồng), và năng lực của đội ngũ nhân viên. Việc hiểu rõ những yếu tố này giúp các DNNVV triển khai KTQTM hiệu quả hơn, góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, nâng cao hiệu quả hoạt động và hình ảnh doanh nghiệp.

Để hiểu rõ hơn về thực tế đánh giá môi trường doanh nghiệp, bạn có thể tham khảo Khóa luận tốt nghiệp đánh giá hiện trạng môi trường tại chi nhánh công ty tnhh thương mại vhc thái nguyên. Tài liệu này cung cấp cái nhìn chi tiết về quy trình và phương pháp đánh giá hiện trạng môi trường, giúp bạn hình dung rõ hơn về các vấn đề môi trường mà DNNVV có thể đối mặt. Đồng thời, để nắm bắt được bức tranh tổng quan về trách nhiệm của doanh nghiệp đối với môi trường theo quy định của pháp luật, đừng bỏ qua tài liệu Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong luật bảo vệ môi trường, nó sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về khung pháp lý và nghĩa vụ mà doanh nghiệp cần tuân thủ.