CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Theo Welford (1998) “ngày càng có nhiều doanh nghiệp, tổ chức thấy rằng việc tối đa hóa lợi nhuận không còn cách hoạt động hiệu quả nhất của doanh nghiệp cũng như duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh của họ”. Ta có bảng thống kê số liệu việc áp dụng EMA của các thành viên UN (2007) như sau: Bảng 1.1 Áp dụng EMA của các thành viên UN Số các Chương trình EMA nước Số nước Tỷ lệ % Tất cả các thành viên của UN 192 49 25.5% Các khu vực kinh tế: - Khu vực đang phát triển 154 20 13% - Khu vực phát triển 38 29 76.3% Gộp nhóm theo nền kinh tế: - Nền kinh tế đang phát triển 136 19 14% - Nền kinh tế chuyển đổi 19 3 15.8% - Nền kinh tế phát triển 37 27 73% Gộp nhóm theo khu vực địa lý: - Châu Âu, Bắc Mỹ 45 26 57.8% - Trung Á, Nam Á, Đông Á, ĐNA 30 7 23.4% - Châu Đại Dương 14 4 28.6% - Châu Mỹ La tinh, vùng vịnh 33 4 12% Caribean (Nguồn: Bùi Thị Thu Thủy, 2007) Nhận xét: Tại năm 2007 thì toàn cầu có 49 nước thực hiện EMA chiếm 25.5% trong tổng số nước trong LHQ. Trong đó, khu vực kinh tế phát triển chiếm tỷ lệ cao 8 76.3% gấp nhiều lần so với các nước đang phát triển là 13%.
Tương ứng là các nước Châu Âu, Bắc Mỹ chiếm tỷ lệ cao nhất 73%. Nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới đã từng có rất nhiều công trình nghiên cứu về EMA. Vào năm 1995, Deegan và cộng sự “đã đưa ra báo cáo về kết quả nghiên cứu EMA ở Australia. Kết quả cho thấy tại Australia có sự thiếu nhất trí về vấn đề MT và không đồng thuận cho rằng các vấn đề MT là cần được đưa vào BCTC”.
Brown và Deegan (1998) đã thực hiện việc kiểm tra việc công khai các thông tin về hiệu quả của hoạt động MT dựa theo 2 cơ sở lý thuyết: “cơ chế truyền thống và hợp pháp”, trong đó 9 ngành công nghiệp được xem xét trong giai đoạn từ năm 1981- 1994. Tác giả lập luận rằng “phương tiện truyền thông sẽ làm cho vấn đề môi trường đươc quan tâm hơn, qua đó đưa ra vấn đề thông tin về môi trường trong báo cáo hàng năm. Mức độ quan tâm truyền thông cao hơn thì việc sử dụng thông tin môi trường”. Tuy nhiên, bài nghiên cứu cũng có một số hạn chế như phương tiện truyền thống hạn chế về tính sẵn có, không xác định được đâu mới là nguồn thông tin có tầm ảnh hưởng lớn, mới chỉ chú ý đến các sự kiện cụ thể mà không đề cập đến thông tin MT.
Cũng vào năm 1998 bài nghiên cứu của Verschoor đã đề cập đến mối quan hệ giữa tài chính của các công ty với vấn đề MT: “tìm ra được mối liên hệ giữa mối quan hệ trên được coi như là một phần trong khía cạnh của quản trị DN, với 26,8% trong tổng số 500 công ty lớn nhất tại Mỹ đã tuân thủ và cam kết các quy tắc về các quy định của môi trường”. Vào năm 2000 bài nghiên cứu về thực trạng và tiềm năng của việc thực hiện EMA của 84 công ty tại Đức, Hà Lan, Ý, Anh về ngành hóa chất, ngành in, năng lượng và dược phẩm của Bartolomeo và cộng sự. Bài nghiên cứu đã đưa ra kết quả cho thấy rằng “tại các công ty ở Châu Âu đã quan tâm đến EMA nhưng mới chỉ ở mức vừa phải, tuy nhiên đang có xu hướng tăng lên theo thời gian. Đa số các công ty đã có chiến lược MT riêng và hơn ½ số công ty đã có hệ thống quản lý MT”.
Kết quả đã chỉ ra rằng các công ty quan tâm nhiều đến việc kiểm soát ô nhiễm tuy nhiên còn hạn chế trong việc ra quyết định ngắn hạn, thực hiện việc phân bổ CPMT. Vấn đề EMA được Frost và Wilmshurst (2000) đề cập đến trong lĩnh vực kinh doanh của 121 công ty lớn được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tại Úc: “so 9 sánh các công ty trong lĩnh vực công nghiệp quan tâm với môi trường và những công ty ít quan tâm tới môi trường, kết quả đã chỉ ra sự khác biệt đáng kể đối với việc thực hiện EMA trong các lĩnh vực liên quan đến việc xử lý ô nhiễm và ô nhiêm MT”. Bài nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng các công ty trong lĩnh vực công nghiệp rất nhạy cảm với MT và nhận thức được nhiều vấn đề về chi phí MT. Frost và Seamer (2002) đã thực hiện phân tích hoạt động quản lý, báo cáo về MT thuộc khu vực công tại New South Wales (Australia).
Tác giả đã khảo sát 35 nhà quản lý khu vực công, qua đó cho biết “½ số đơn vị trong khảo sát này đã xây dựng cho mình một CLMT riêng, họ thực hiện dịch vụ công gắn liền với MT thông qua việc công bố mức độ thông tin MT. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã phát hiện ra các mối quan hệ cùng chiều giữa các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực nhạy cảm với môi trường với các đơn vị có quy mô hơn về việc thực hiện hệ thống QLMT”. Masanet Llodra (2006) thực hiện nghiên cứu sâu về mối quan hệ giữa chiến lược đổi mới với việc thực hiện EMA của công ty ngành gạch men: “Kết quả đưa ra được chỉ số MT khi thực hiện EMA đã đem lại sự cải thiện trong kinh doanh, chiến lược chung của công ty chính là đầu tư vào MT”. Nghiên cứu phát hiện ra rằng các công ty không có sự quan tâm trong việc tiết lộ thông tin MT trong các BCTC mỗi năm.
Mặc dù, công ty cam kết với bên liên quan về việc thông bố thông tin MT tuy nhiên mới chỉ dừng ở mức khẩu hiệu mà thực tế việc công bố thông tin MT không được công khai, công ty chỉ phản hồi đặc biết thay vù cung cấp số lượng thông tin một cách tổng quát. Burritt và Saka (2006) nghiên cứu về ứng dụng EMA và hiệu quả sinh thái dựa theo việc khảo sát 6 công ty tại Nhật Bản: “Bài nghiên cứu đã chỉ ra được chỉ số sinh thái và hiệu quả sinh thái của các công ty đó, tuy nhiên việc áp dụng sử dụng EMA vẫn còn hạn chế và phải thúc đấy mạnh hơn”. Bài nghiên cứu “Enviromental management accounting within universities: current state and future potential” Chang (2007) đã khám phá ra được những yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng EMA bao gồm: “thái độ, thông tin, thể chế và quản lý trong giáo dục đại học”. Năm 2008, bài nghiên cứu của Kokubu và Nashioka đã tiến hành nghiên cứu EMA tại 75 công ty mẹ cùng với 255 công ty con thuộc ngành sản xuất tại Nhật Bản.
10 Sự phát triển của EMA của công ty con được thúc đẩy bởi công ty mẹ, trong đó “công ty mẹ quan tâm đến mục đích công bố thông tin MT hơn là việc quản lý nội bộ và hầu hết đều đã tuân thủ thực hiện theo các văn bản quy định hướng dẫn việc thực hiện EMA trong công ty”. Tương tự với bài nghiên cứu của Setthasakko (2010) cho rằng nhân tố ảnh hưởng đến EMA gồm: “vai trò của nhà quản trị, chia sẻ kiến thức, xây dựng hình ảnh công ty trong công ty sản xuất giấy và bột giấy”. Nhân tố tác động tới việc áp dụng EMA còn là “kiến thức, kỹ năng và sự hướng dẫn” được Jalaludin & cộng sự (2011) nêu ra trong tác phẩm của mình. Ngoài ra tại Australia, với bài nghiên cứu “Environmental management accouting: the signficance of contigency variables for adoption” Christ & Buritt (2013) đã đưa ra được nhân tố ảnh hưởng đến EMA như: “cấu trúc tổ chức, quy mô tổ chức, chiến lược môi trường, ngành công nghiệp tác động cùng chiều đến việc thực hiện EMA”.
Các nhân tố ảnh hưởng đến EMA bao gồm: “quy mô công ty, chiến lược môi trường, trình độ công nghệ, thời gian hoạt động, thành quả tài chính, chi phí tuân thủ các quy định môi trường” được Wachira (2014) nêu ra trong việc phân tích đến việc áp dụng EMA tại các doanh nghiệp sản xuất qua bài nghiên cứu “Factors influencing the adoption of environmental management accouting Practices among firms in Nairobi, Kenya”. Mohamed, Muhammed & Ali (2015) cũng đã đưa ra 3 biến độc lập ảnh hưởng tới việc áp dụng EMA như: “áp lực cưỡng chế, áp lực mô phỏng, áp lực quy chuẩn” qua việc phân tích và sử dụng dữ liệu thu thập được qua bảng câu hỏi khảo sát trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, và các nghiên cứu khác như của Phanetal (2017), … 1. Nghiên cứu trong nước Ở VN, EMA còn khá xa lạ, có rất ít các công trình nghiên cứu tới nó, tiêu biểu với một số công trình sau như Phạm Thị Bích Chi và cộng sự (2006) đã nghiên cứu đến việc “vận dụng EMA trong các DN” vẫn còn rất ít. Kết quả nghiên cứu này đưa ra các phương pháp hạch toán cũng như vấn đề EMA trong các DN.
Với bài nghiên cứu của Nguyễn Ánh Tuyết và Nguyễn Chí Quang cũng đã “phân tích vấn đề cơ cấu giá 11 thành sản phẩm của công ty Machino”, qua đó nghiên cứu chỉ ra vấn đề về việc áp dụng sử dụng EMA tại các DN sản xuất ở Việt Nam. Trịnh Hiệp Thiện (2010) với bài nghiên cứu: “Vận dụng EMA vào các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam”. Đề tài đã đề cập đến vấn đề về “các yếu tố ảnh hưởng tới EMA như sự thiếu hiểu biết của nhà quản trị cấp cao, hay việc thiếu kinh nghiệm,… qua đó chỉ ra việc vận dụng EMA tại VN còn nhiều khó khăn cả về thông tin số lượng và cả về chi phí thực hiện, nhấn mạnh được những thách thức, sự thuận lợi và khó khăn trong quá trình vận dụng EMA tại VN”. Bùi Thị Thu Thủy (2010) đã dựa trên cơ sở lý luận nghiên cứu đưa ra đề xuất “thực trạng CPMT trong các DN thuộc lĩnh vực khai thác than tại Việt Nam”, qua đó đưa ra mô hình quản lý và hạch toán CPMT.
Tuy nhiên, bài nghiên cứu vẫn chưa vận dụng được triệt để các công cụ của EMA bao gồm: “kế toán CP theo mức độ hoạt động trong việc xác định EMA và kế toán CP theo dòng vật liệu”. Hoàng Thị Bích Ngọc (2014) đã thực hiện nghiên cứu “EMA tại Nhật Bản qua đó đưa ra bài học cho các DN tại Việt Nam” kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được “EMA thường được áp dụng các DNSX có quy mô lớn, và để thực hiện áp dụng được tốt EMA cần có sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng thông qua các quy định, văn bản hướng dẫn”.