CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới Tại các quốc gia phát triển, KTQTCPMT trong doanh nghiệp nhận được rất nhiều sự quan tâm từ nhà nghiên cứu và những người hoạt động trong lĩnh vực kế toán và môi trường. KTQTCPMT được nghiên cứu từ những năm 70 của thế kỉ XX và triển khai áp dụng tại nhiều nước trên thế giới trong thập niên 90. Trong lĩnh vực nghiên cứu cũng vậy, đã có những nghiên cứu rất sớm từ những năm 70 nhưng phải thực sự tới những năm 90 mới sự xuất hiện nhiều và nhanh chóng về các nghiên cứu kế toán môi trường, đặc biệt bùng nổ từ năm 1997 đến nay (Stefan Schaltegger và cộng sự, 2011). EMCA đã trở thành một đề tài ngày càng phổ biến đối với các tổ chức quốc tế như Uỷ ban Phát triển bền vững của Liên hợp quốc, Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC), Viện Kế toán công chứng Anh và xứ Wales (ICAEW) thông qua việc ban hành các khuyến nghị, hướng dẫn và các báo cáo khác nhau.
Không những thế sự ra đời của các ấn phẩm liên quan rất đa dạng. Có thể điểm qua một số nghiên cứu tiêu biểu: Cuốn sách “Environmental Management Accounting: Case studies of South – East Asian companies” của Christian Herzig, Tobias Viere, Stefan Schaltegger and Roger L.Burritt xuất bản lần đầu năm 2012 (tạm dịch: Kế toán quản trị môi trường về các trường hợp điển hình của các công ty Đông Nam Á). Cuốn sách đề cập 12 trường hợp nghiên cứu thực hiện ở các công ty tại 4 quốc gia là Indonesia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam để thể hiện cái nhìn sâu sắc về vai trò quan trọng mà KTQTMT mang lại trong việc tạo điều kiện tích hợp các cân nhắc về môi trường vào việc quyết định quản lí và thúc đẩy kinh doanh hiệu quả về mặt kinh tế và môi trường. Nó cung cấp cho các học viên, học giả, các nhà hoạch định chính sách và sinh viên những hướng dẫn họ cần hiểu để áp dụng KTQTMT.
Tại Việt Nam những công ty được nhắc đến là công ty bia Sài Gòn, công ty chế biến tôm Châu Thành Tâm, công ty chế biến thức ăn Tấn Lộc và công ty TNHH Cà phê Neumann Việt Nam. Có thể phạm vi nghiên cứu chủ yếu hướng về ngành công nghiệp thực phẩm và không mở rộng ra nhiều ngành cụ thể như ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng với ví dụ là sản xuất xi măng. Nhưng đây là một nguồn tham khảo nước ngoài có sự gần gũi nhất với Việt Nam chúng ta và có sự đóng góp trong nhiều nghiên cứu khoa học, bài báo, tạp chí kinh tế. Cuốn “Environmental Management Accounting and Supply Chain Management” (Tạm dịch: Kế toán quản trị môi trường và quản lý chuỗi cung ứng) của nhóm tác giả Roger L.Burritt, Stefan Schaltegger, Martin Bennet, Tuala Pohjola và Maria Csutora.
Đây là cuốn sách thứ 5 trong loạt sách nghiên cứu về mạng lưới quản lí bền vững kế toán môi trường với chủ đề chính là vai trò của KTQTMT trong quản lý chuỗi cung ứng bền vững. Nó cung cấp các kiến thức chuyên sâu về các khía cạnh liên quan đến chuỗi cung ứng của kế toán quản lý môi trường. Nó cung cấp các quan điểm chung về các vấn đề chính và các vấn đề nổi bật cụ thể của ngành tiếp xúc cao như đồ uống, thực phẩm, dầu khí, ga và hóa chất. Bên cạnh đó tập sách trình bày tập hợp các khía cạnh kinh tế, xã hội của kế toán quản trị môi trường với phát triển bền vững.
Nghiên cứu của M. Wolters xuất bản năm 2002 tại Hà Lan: “Environmental management accounting information and institutional developments” (Tạm dịch: Thông tin kế toán môi trường và phát triển thể chế). Cuốn sách 4 ra đời để cung cấp thêm thông tin và đưa ra cái nhìn tổng quan trong giai đoạn đầu của quá trình tiếp cận với EMA. Nó cũng đề cập tới vai trò của các bên liên quan trong quá trình tích hợp EMA vào các tổ chức cùng với mạng lưới có thể giúp phổ biến các công cụ mới, những ý tưởng và ví dụ trong thực tiễn.
Cuốn sách đã thể hiện được sự quan tâm ngày càng tăng về EMA. Tuy nhiên nghiên cứu chỉ tập trung chủ yếu khu vực châu Âu. Cuốn “Environmental Management Accounting for Cleaner Production” (Tạm dịch: Kế toán quản trị môi trường cho sản xuất sạch hơn) của nhóm tác giả Stefan Schaltegger, Martin Bennett, Roger L. Burritt, Christine Jasch.
Cuốn sách chỉ ra tiềm năng sản xuất sạch hơn mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp nhưng chưa được áp dụng rộng rãi do còn thiếu các thông tin cần thiết. Nó đề cập tới rào cản trong việc áp dụng sản xuất sạch hơn cùng với việc làm rõ sự liên quan giữa phát triển, đổi mới sản xuất với nhu cầu thông tin và mối quan hệ với bộ phận kế toán. Có thể nói, đã có không ít những nghiên cứu về hình thành và phát triển EMCA thông qua các công trình nghiên về sự kết nối giữa kế toán quản trị chi phí và vấn đề môi trường trong DN cùng với công trình nghiên cứu về nội dung ECMA. Cụ thể, các nghiên cứu đầu tiên tập trung vào tính bền vững của môi trường và những thiếu sót của kế toán quản trị truyền thống trong việc đo lường và quản lý các thông tin liên quan (Mathews, 1997; Schaltegger và Burritt, 2000s).
Báo cáo của Bartotomeo (2000) về liên kết giữa quản lý môi trường và chức năng của kế toán trong các công ty ở châu Âu. Bên cạnh đó, có các nghiên cứu về phương pháp xác định chi phí môi trường: kế toán chi phí môi trường theo vòng đời sản phẩm (Kreuze và Newell, 1994; USEPA, 1995; Schaltegger và Burritt, 2000), kế toán chi phí theo dòng vật liệu (UNDSD, 2001; IFAC, 2005) và kế toán chi phí môi trường theo phương pháp đánh giá chi phí toàn bộ (USEPA, 1995; Medley, 1997). Về nghiên cứu thông tin chi phí môi trường điển hình có Burritt và cộng sự (2002) với đề xuất khung lí thuyết toàn diện cung cấp mô hình ECMA biểu hiện dưới cả thước đo tiền tệ và phi tiền tệ (hiện vật: năng lượng, vật liệu, chất thải). Hầu hết các nghiên cứu về ECMA tập trung nhiều vào lĩnh vực sản xuất.
Với lĩnh vực dịch vụ dường như ECMA có ít điều kiện để phát huy. Chỉ có một số nghiên cứu áp dụng ECMA trong lĩnh vực này như nghiên cứu trong trường đại học (Chang, 2007), công ty dịch vụ tài chính (Deegan, 2003), dịch vụ bảo vệ tài nguyên rừng (Papaspyroppulos & cộng sự, 2012; Schaltegger & cộng sự, 2008). Điều này có thể phản ánh thực tế là lĩnh vực sản xuất rất nhạy cảm với môi trường và tạo ra tác động môi trường tiêu cực rõ ràng hơn so với lĩnh vực khác (Jalaludin & cộng sự, 2011). Đánh giá tình hình nghiên cứu thế giới: Các nghiên cứu tập trung vào việc định nghĩa, xác định phạm vi CPMT và đưa ra các phương pháp kế toán CPMT.
Cùng với đó, là việc sử dụng thông tin để đưa ra quyết định đầu tư liên quan tới môi trường. Đối với KTQTCPMT đa số là các nghiên cứu gắn với trường hợp cụ thể thuộc các ngành nghề khác nhau như sản xuất, thương mại, dịch vụ. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các quy định mang tính chỉ đạo, hướng dẫn một số nội dung kế toán môi trường, công khai thông tin môi trường của doanh nghiệp, hướng dẫn việc đánh giá và lập báo cáo về các yếu tố liên quan đến môi trường. Đó là những nguồn tư liệu tham khảo hữu hiệu tuy nhiên chưa hoàn toàn phù hợp với các điều kiện cụ thể tại các DN sản xuất xi măng của Việt Nam.
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước Đối với Việt Nam, KTQTCPMT còn là một vấn đề khá mới đối với các nhà nghiên cứu và các doanh nghiệp nước ta. Cho tới thời điểm hiện tại, nước ta chưa có nhiều công trình nghiên cứu về KTQTCPMT mà chỉ tập trung chủ yếu nghiên cứu CPMT trong doanh nghiệp và kế toán môi trường trong doanh nghiệp. Nghiên cứu về CPMT nổi bật ở một số tác giả tiên phong như: Trọng Dương (2008): đề xuất việc phân loại CPMT thành các chi phí nhỏ cụ thể. Kết quả cho thấy, CPMT có khả năng được khống chế thông qua hoạt động kiểm soát CPMT tại DN.
Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập tới các tính toán và cách truyền đạt thông tin tới cho nhà quản trị doanh nghiệp. Bùi Thị Thu Thủy (2010) với luận án tiến sĩ: “Nghiên cứu mô hình quản lý và hạch toán CPMT trong doanh nghiệp khai thác than” đã làm rõ nguyên nhân phát sinh CPMT và cách thức xây dựng mô hình quản lý, hạch toán chi phí môi trường. Tuy nhiên, tác giả chưa sử dụng các phương pháp xác định CPMT đặc thù của kế toán như phương pháp ABC, phương pháp MFCA. Phạm Đức Hiếu và Trần Thị Hồng Mai (2012) đã đưa ra các khái niệm về tài sản môi trường, nợ phải trả môi trường, CPMT, thu nhập môi trường, phương pháp phân loại và cách xác định CPMT trong DN.
Nghiên cứu này có ý nghĩa hết sức quan trọng và tác động tích cực tới công tác quản trị môi trường DN. Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập tới dòng thông tin quá khứ và tương lai để phục vụ việc ra quyết định quản trị DN. Về Kế toán Môi trường trong những năm gần đây ngày càng được quan tâm, đặc biệt trong cả DNSX. Bởi vậy, có nhiều nghiên cứu kế toán môi trường trong DN ở mặt lý thuyết và thực tiễn vận dụng.
Một số nghiên cứu hướng tới phát triển lý thuyết về KTMT như: bài báo “Định hướng phát triển kế toán quản lý môi trường trong hệ thống kế toán Việt Nam” của Hà Xuân Thạch (2014) chỉ ra nội dung của KTMT. Hay bài báo “Kế toán môi trường tại Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế” của Phạm Hoài Nam (2015) và nghiên cứu của Lê Anh Tuấn, Nguyễn Lê Nhân (2016) với bài báo “Kế toán môi trường và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp” cho thấy những áp lực đối với việc cần thực hiện KTMT trong DN. Với bài báo: “Sự cần thiết áp dụng KTQTMT trong kế toán Việt Nam” (2016) của tác giả Ngô Thị Thu Hồng cho thấy sự quan trọng của việc áp dụng KTQTMT trong việc giải quyết song hành hiệu quả tế và hiệu quả môi trường. Tuy nhiên tác giả chưa lảm rõ KTQTCPMT trong hệ thống kế toán và việc sử dụng các phương pháp xác định CPMT đặc thù của kế toán phục vụ quản lý môi trường trong DN.