Mở đầu Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về giải ngân nguồn vốn Phần 3. Phương pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu Phần 5.
Kết luận và kiến nghị 4 c PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Một số khái niệm liên quan (1) Khái niệm về dự án đầu tư Theo Liên Minh Law (2014): Dự án đầu tư là tổng thể các giải pháp về kinh tế – tài chính, xây dựng – kiến trúc, kỹ thuật – công nghệ, tổ chức – quản lý để sử dụng hợp lý các nguồn lực hiện có nhằm đạt được các kết quả, mục tiêu kinh tế – xã hội nhất định trong tương lai. Theo Luật đầu tư năm 2005: “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”.
Như vậy, có thể hiểu dự án đầu tư là tập hợp các hoạt động đánh đổi giữa nguồn lực hiện tại để có thể đạt được kết quả mong muốn trong tương lai. (2) Khái niệm về vốn ODA Đến nay, thuật ngữ ODA được sử dụng khá phổ biến. ODA được hiểu là nguồn tài chính do các cơ quan chính thức (các chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế hoặc các địa phương) cung cấp cho các nước chậm và đang phát triển, nhằm thúc đẩy kinh tế và phúc lợi ở các nước này. Cần chú ý rằng, mặc dù gọi là hỗ trợ phát triển, nhưng phần cho không chỉ chiếm 25% vốn cung cấp.
Chính vì thế, cần có sự quan niệm đầy đủ và đúng đắn về nguồn vốn này, không sử dụng lãng phí ODA. Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) định nghĩa: “ODA là một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển hoặc kém phát triển, điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố hỗ trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%”. Nghị định 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ Việt Nam (thay thế cho Nghị định 17/2001/NĐ-CP ngày 14/05/2001) định nghĩa: Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ 5 c là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên Quốc gia hoặc liên Chính phủ. Như vậy, có thể hiểu khái niệm về ODA như sau: Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là nguồn hỗ trợ (tiền tệ, vật chất, công nghệ) của các nước phát triển, các tổ chức tài chính quốc tế, các tổ chức phi chính phủ (gọi chung là các đối tác viện trợ nước ngoài) dành cho các nước đang và chậm phát triển (gọi là bên nhận viện trợ) nhằm giúp cho các nước ngày tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.
(3) Khái niệm về giải ngân vốn dự án Vấn đề giải ngân là một đặc điểm nổi bật của nguồn vốn ODA, khi xem xét về hiểu quả sử dụng vốn ODA ở một nước, các nhà tài trợ thường xem đây là một tiêu chí quan trọng để đánh giá và từ đó ra các quyết định tài trợ. Giải ngân ODA được coi là thước đo năng lực tiếp nhận và sử dụng hỗ trợ phát triển chính thức. Khái niệm giải ngân vốn ODA luôn đi kèm với khái niệm cam kết tài trợ ODA. Cam kết tài trợ ODA là việc các nhà tài trợ quốc tế thông qua thảo luận với Chính phủ nước tiếp nhận tài trợ hứa sẽ hỗ trợ một lượng vốn nhất định (có thể bằng tiền mặt, hiện vật.) theo những hình thức cụ thể (khoản hoàn lại, vốn vay có hoàn lại,.) trong một thời gian định trước.
Theo các nhà tài trợ “giải ngân” được dịch từ thuật từ “Disbursment” có nghĩa là sự chi tiêu, và quá trình đó được tính từ khi chuyển tiền sang nước nhận tài trợ cho đến khi hoàn thành dự án vào sử dụng. Tuy nhiên, dưới góc độ là nơi tiếp nhận vốn ODA, các nước nhận viện trợ thường cho rằng khái niệm giải ngân được gắn liền với thuật ngữ “Withdrawing” hơn, có nghĩa là quá trình rút vốn để thực hiện dự án. Kèm theo đó, quá trình giải ngân cũng được tính từ khi bên tiếp nhận viện trợ nhận được vốn ODA của các nước tài trợ. Như vậy, nếu tính về mặt thời gian, quá trình giải ngân ODA theo cách hiểu của nhà tài trợ sẽ dài hơn nếu so cách hiểu của nước tiếp nhận.
Để thống nhất và thuận lợi trong quá trình theo dõi, đánh giá thực trạng giải ngân vốn ODA, có thể hiểu một cách khái quát về giải ngân và quá trình giải ngân như sau: Giải ngân là việc rút tiền theo khoản mục trong Hiệp định sử dụng vốn ODA đã được ký kết giữa Chính phủ nước tiếp nhận và Nhà tài trợ, được nhà tài trợ chấp nhập thanh toán thông qua (Nguyễn Quang Bắc, 2007). 6 c (4) Lý luận về tiến độ giải ngân dự án Để có thể hiểu được tiến độ giải ngân dự án. Trước hết, cần hiểu về tiến độ dự án: Tiến độ dự án là việc thực hiện các nhiệm vụ theo mục tiêu đặt ra của dự án, phù hợp với điểu kiện thực hiện cụ thể, những yêu cầu nhất định về nhân lực, thiết bị, vật tư, tài chính và quy định của pháp luật để hoàn thành dự án hay công trình với chất lượng tốt nhất, thời gian xây dựng ngắn nhất và chi phí thấp nhất. Quản lý thời gian và tiến độ dự án là quá trình quản lý nhằm đảm bảo dự án được thực hiện đúng thời hạn quy định trong phạm vi ngân sách và nguồn lực cho phép.
Giải ngân là nhận được tiền khi hoàn thành từng bước trong kế hoạch dự án, là giải quyết tiền bạc theo từng bước công việc, giải ngân chỉ được thực hiện khi hoàn thành xong công việc của mỗi bước trước rồi sau đó mới được nhận tiền. Như vậy, có thể hiểu: “Tiến độ giải ngân là quá trình thực hiện các nhiệm vụ đã đặt ra theo kế hoạch tài chính sau khi đã hoàn thành xong các công việc về thực hiện dự án. Ngoài ra, thuật ngữ tiến độ giải ngân dùng để chỉ quá trình giải ngân diễn ra nhanh hay chậm từ đó có thể đánh giá hiệu quả giải ngân của dự án. Tiến độ giải ngân được đánh giá trên cơ sở khối lượng và tỷ trọng vốn thực tế đã giải ngân so với kế hoạch” (Vũ Thị Huyền, 2015).
Cơ sở lý luận về vốn ODA 2. Khái quát chung về các nguồn vốn của dự án đầu tư phát triển (1) Nguồn vốn ODA: ODA bao gồm ODA không hoàn lại và ODA cho vay ưu đãi có yếu tố không hoàn lại chiếm ít nhất 25% giá trị khoản vay (Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển, 1972). Vốn đối ứng gồm từ 2 nguồn: a) Nguồn đối ứng từ ngân sách Nhà nước b) Vốn đối ứng của người hưởng lợi là Nguồn vốn huy động từ các tầng lớp dân cư, kể cả sự đóng góp bằng công lao động để cân đối nguồn vốn đối ứng 7 c cho các chương trình, dự án ODA (các chương trình, dự án đầu tư thực hiện theo phương thức Nhà nước và nhân dân cùng làm). Hiệp hội Phát triển Quốc tế là tổ chức trực thuộc nhóm WB, được thành lập năm 1960.
(4) Vốn GEF Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) được thành lập để giải quyết các vấn đề môi trường toàn cầu bao gồm 183 quốc gia thành viên. GEF hoạt động thông qua các quan hệ đối tác với các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân. GEF là một tổ chức tài chính độc lập, cung cấp các khoản viện trợ trong các lĩnh vực đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu, các vùng nước quốc tế, suy thoái đất, hóa chất và chất thải, quản lý rừng bền vững cho các quốc gia đang phát triển và các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi (Sổ tay hướng dẫn xây dựng dự án quỹ môi trường toàn cầu Việt Nam, 2015). Đặc điểm của dự án ODA: Không chịu sự điều hành trực tiếp của nhà đầu tư không giống như nguồn vốn FDI, các nhà tài trợ ODA không trực tiếp tham gia vào việc giám sát, quản lý, điều hành dự án mà thường sẽ tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia.
Tuy nước chủ nhà có quyền sử dụng quản lý vốn ODA nhưng thông thường mẫu lập dự án ODA phải có sự thoả thuận với các nhà tài trợ và các nhà tài trợ xem xét rất kỹ các dự án xin tài trợ và kiểm tra một cách kỹ lưỡng việc thực hiện dự án có đúng mục đích hay không. Hình thức giải ngân vốn Quy trình giải ngân vốn ODA của các Nhà tài trợ khác nhau thường không giống nhau do tính đa dạng của các loại dự án. Thực tế, mỗi dự án có nguồn tài trợ khác nhau thì quá trình giải ngân khác nhau được quy định cụ thể trong sổ tay giải ngân, song có thể phân chia các hình thức giải ngân ODA theo các tiêu chí sau: Thứ nhất: căn cứ vào thời gian, có thể chia ra: - Giải ngân nhanh: thời gian chuyển tiền và chi tiền thường được bên tài trợ và các nước tiếp nhận tiến hành khá nhanh do tính cấp bách của dự án. Viện trợ giải ngân nhanh thường được thực hiện đối với hình thực viện trợ không theo 8 c dự án, viện trợ lương thực và cứu trợ khẩn cấp cũng như hình thức hỗ trợ cán cân thanh toán (Nguyễn Quang Bắc, 2007).
- Giải ngân theo tiến trình thực hiện dự án: Nhà tài trợ căn cứ vào tiến trình thực hiện dự án và hồ sơ xin rút vốn của chủ dự án để tiền hành chuyển tiền theo tiến trình đó. Cách thức giải ngân này thường được áp dụng đối với dự án hỗ trợ kỹ thuật độc lập và các dự án đầu tư vốn. Đây là các lĩnh vực mà sản phẩm của dự án thường gắn với công trình xây dựng, có tiến độ thực hiện (thi công kéo dài). Thứ hai: Căn cứ vào mức độ giải ngân và quy mô vốn tài trợ, có thể chia: - Giải ngân 1 lần: Thường được áp dụng đối với các dự án viện trợ không hoàn lại bằng hàng hoá, hoặc viện trợ chương trình (điển hình là dự án của các nhà tài trợ ở khu vực Bắc Âu như Đan Mạnh, Phần Lan, .