Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu 1. Giới thiệu về cây Keo lá liềm 1.
Đặc điểm nhận biết Keo lá liềm còn gọi là Keo lưỡi liềm hoặc Keo lưỡi mác, có tên khoa học là Acacia crassicarpa A. ex Benth, thuộc họ Trinh nữ (Mimosaceae) là cây thân gỗ, sống lâu năm hoặc thân bụi tùy môi trường sống. Nơi nguyên sản tại các đụn cát ven biển (Australia) là cây thân bụi cao 2-3m, bình thường cao 5-20m, nơi thích hợp cao tới 30m, đường kính lên tới 50-60cm. Thân thẳng, đâm nhiều cành nhánh, vỏ màu sẫm hay nâu xám, nhiều vết nứt sâu.
Lá già nhẵn bóng, màu xanh lục, lá đơn hình lưỡi liềm dài 11 - 12cm, rộng 1 -4 cm, có 3 - 5 gân dọc gần song song chụm lại phía đuôi lá. Hoa tự chùm màu vàng nhạt, dài 4 - 7cm. Quả chín vào tháng 5 - 6 đối với các tỉnh phía Bắc và Miền Trung. Quả dạng quả đậu, mọc xoắn, hạt nhẵn màu đen.
Hạt được thu hái khi bắt đầu chuyển sang mầu nâu hoặc màu xám, khi tách hạt ra thấy hạt có màu đen, trung bình khoảng 35. Rễ phát triển mạnh, có nhiều vi khuẩn cố định đạm cộng sinh nên vừa có tác dụng bảo vệ và cải tạo đất rất tốt, đặc biệt là các vùng cát trắng ven biển. Đặc tính sinh học và sinh thái học Cây ưa sáng, độ cao thích hợp dưới 200m, cũng có thể trồng tới độ cao 700m so với mặt biển. Lượng mưa bình quân hàng năm từ 1.500mm, mưa theo mùa hoặc mưa tập trung vào mùa hè, chịu được khô hạn, gió Lào… Chịu nhiệt độ bình quân các tháng nóng nhất là 31-340C, nhiệt độ bình quân các tháng lạnh nhất 15-220C, không có sương giá.
Keo lá liềm có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau kể cả đất cát sâu và đất sét khó thoát nước. Có thể chịu được độ mặn, đất cằn cỗi và khả năng chịu lửa tốt. Nhưng điều kiện sinh trưởng, phát triển tốt nhất là trên các loại đất feralit, pH từ 3 – 7. Phân bố địa lý A.
crassicarpa mọc tự nhiên ở Australia, Indonesia, Papua New Guinea, Được đưa vào trồng tại các nước Trung Quốc, Fiji, Malaysia, Thái Lan. Cây đã được đưa vào Việt Nam trồng thành rừng ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ. Giá trị Công dụng: Gỗ Keo lá liềm khá nặng, gỗ lớn dùng đóng đồ mộc, gỗ xây dựng, làm ván ghép thanh; gỗ nhỏ dùng làm nguyên liệu giấy, dăm, ván ép, cọc trụ mỏ… Do Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 tán lá rộng thường xanh, mọc chồi khỏe, có khả năng cạnh tranh với cỏ dại nên dùng để trồng trên đồi trọc làm cây che bóng cho các cây ăn quả, cây công nghiệp rất tốt. Trên các vùng đất dốc có thể trồng thành hàng rào hay băng xanh để chống xói mòn, làm băng cản lửa, chắn gió để bảo vệ đất rất hữu hiệu.
Với các vùng đất cát ven biển, đặc biệt là các đồi cát nội đồng hoặc đồi cát di động, bán di động… là cây trồng lý tưởng để hình thành rừng phòng hộ bảo vệ đất, điều hóa khí hậu, chống cát bay, cát nhảy, cải tạo môi trường sinh thái, tạo điều kiện thuận lợi cho canh tác nông nghiệp và đời sống dân sinh. Khả năng kinh doanh, bảo tồn Trong thời gian 15 năm trở lại đây, Keo lá liềm đã được nghiên cứu đưa vào trồng ở một số nước Đông Nam Á và châu Phi, và nó đã chứng tỏ là một trong những loài cây trồng lâm nghiệp mới có nhiều hứa hẹn cho các vùng đất cát ven biển, các vùng đất bị suy thoái. Đã và đang được trồng thành rừng thuần loài hoặc hỗn giao tại nhiều tỉnh thành ở nước ta. Hình thái liên quan đến khả năng chịu nóng, chịu hạn của Keo lá liềm Có thể nói, khả năng chịu hạn, chịu nóng của các loài chủ yếu được thể hiện thông qua đặc điểm hình thái (ngoại trừ một số loài có thể chịu được, tồn tại được nhờ đặc điểm gen di truyền vốn có của loài), như mô tả ở phần hình thái liên quan đến khả năng chịu nóng, chịu hạn của Keo lá liềm được biểu hiện thông qua một số đặc điểm hình thái đó là: Lớp vỏ của Keo lá liềm rất dày, lớp bên ngoài rất rắn chắc, lớp trong cùng nhiều nước, vỏ nứt dọc thân, đặc điểm này giúp cây giữ được nước trong thân, ngăn chặn được những tác động ngoại cảnh gây tổn hại đến vỏ cây, làm mất nước trong cây, từ đó giúp cây có thể chịu được nhiệt tốt, thậm chí nhiều cây sau khi bị lửa cháy tạt có thể phục hồi trở lại.
Phiến lá của Keo lá liềm nằm theo chiều vuông góc với mặt đất, đặc điểm tự nhiên này giúp lá cây hạn chế tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời vào thời điểm có nhiệt độ cao nhất trong ngày (từ 10h đến 14h). Đặc điểm này đã làm hạn chế việc thoát hơi nước, giúp cây có thể chịu được ở những vùng có thời tiết thường xuyên nắng nóng, nhiệt độ cao. Do có nguồn gốc xuất xứ từ các vùng cát khô nóng nên rễ của Loài Keo lá liềm phát triển rất mạnh, kể cả rễ cọc, rễ chùm đều ăn sâu, lan rộng trong lòng đất. Để ngăn chặn việc hấp thụ nhiệt và bốc hơi nước của các vùng đất cát vốn dĩ đã khô hạn, Keo lá liềm đã hình thành và phát triển hệ thống rễ phụ mọc lan tỏa ngược lên trên bề mặt đất, đây chính là đặc điểm đáng kể về khả năng chịu hạn của loài Keo này, lớp rễ phụ này mềm, mịn, đan xen chằng chịt vào nhau như các lớp lưới xếp chồng lên nhau, có những cây lớp rễ phụ dày đến 15cm, điều này đã giúp cho việc thấm và giữ nước của Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 những đợt mưa hiếm hoi cũng như hạn chế được việc hấp thụ nhiệt và bốc hơi nước của bề mặt đất cát.
Cơ sở thực tiễn của các vấn đề nghiên cứu Công tác trồng rừng trên vùng cát ven biển Trong vài thập kỷ gần đây, với mong muốn trồng phát triển, gây trồng các loài cây lâm nghiệp chịu hạn ở vùng đất cát ven biển. Nhiều loài cây đã được đưa vào trồng khảo nghiệm và phát triển ở các địa phương Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận. như Bạch đàn, Xoan chịu hạn, Trai lá cong, các loài Keo chịu hạn, Phi lao. Ngoài những cây trồng nêu trên, vùng đất cát ven biển duyên hải miền Trung còn trồng một số loài cây bản địa, cây ăn quả lâu năm như: Xoài, Đào lộn hột, ổi.
bước đầu đã mang lại những thành công nhất định. Trong kế hoạch phát triển lâm nghiệp của tỉnh Thừa Thiên - Huế xác định: Từ 2011-2015 tiếp tục quản lý, bảo vệ 12.000 ha rừng vùng cát ven biển hiện có; trồng mới 1.150 ha rừng vùng cát ven biển và đầm phá, với các loại cây trồng như phi lao, Keo chịu hạn, Keo lá liềm và cây ngập nước. Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển rừng vùng cát ven biển và đầm phá chống biển xâm thực cho giai đoạn này ở Thừa Thiên - Huế gần 20 tỷ đồng, từ nguồn vốn Nhà nước; vốn chương trình dự án JIPPRO do Trung tâm xúc tiến và hợp tác quốc tế Nhật Bản tài trợ; vốn trồng cây phân tán hàng năm của tỉnh; vốn bảo vệ nâng cấp đê điều, phòng chống thiên tai để đầu tư, xây dựng hệ thống rừng phòng hộ thuộc hành lang bảo vệ đê và khu vực bị sạt lở. Hiện nay, các địa phương ven biển miền Trung đã quyết tâm trồng các đai rừng phòng hộ trên vùng cát, ví dụ tỉnh Thừa Thiên - Huế đã hình thành tuyến rừng phòng hộ ven biển chạy dài từ Phú Lộc đến Quảng Điền, chủ yếu là rừng cây phi lao, Keo lá liềm và nhóm các loại thực vật hoang dại như: xương rồng, tràm, chổi, mua, sim, chạc chìu, dứa dại.góp phần đa dạng hóa thành phần loài cho thảm thực vật vùng cát phòng hộ ven biển, tuy nhiên trong số đó cây Keo lá liềm vẫn có nhiều ưu điểm vượt trội hơn.
Giai đoạn 2001-2003, dự án BASA do chính phủ Nhật Bản viện trợ đã trồng được trên 1.000ha tại hai tỉnh Quảng Nam và Phú Yên, tuy nhiên do chưa có nhiều thông tin về cây Keo lá liềm, nên chỉ có khoảng 5% diện tích được trồng cây Keo lá liềm. Kết quả sau gần 9 năm, một số diện tích trồng các loài cây như Phi lao, Điều chưa đạt được như mong muốn, tỷ lệ sống còn thấp, một số khác cây sinh trưởng còn kém, mọc nhiều cành nhánh, thân chính thấp và bò lan trên mặt đất. Riêng diện tích trồng cây Keo lá liềm được đánh giá là khá thành công. Thực tế trong nhiều năm qua, trồng rừng cũng như các mô hình sinh thái ở Tuy Phong (Bình Thuận); Thăng Bình (Quảng Nam), Quảng Điền (Thừa Thiên Huế).
đều Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 đem lại kết quả tốt và đã chỉ ra được các loài cây thích hợp trên vùng cát như: Keo lá liềm, Phi lao, các loài Keo chịu hạn. đều sinh trưởng phát triển tốt đồng thời điều kiện lập địa được cải thiện rõ rệt, trong đó Keo lá liềm vẫn tỏ ra là cây có nhiều ưu điểm vượt trội hơn cả. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 1. Hình thái và phân bố cây Keo lá liềm Keo lá liềm (Acacia crassicarpa A.Cunn ex benth) thuộc họ trinh nữ (Minosaceae).
Qua điều tra tập đoàn cây trồng cây trồng rừng chủ yếu trên đất cát nội đồng vùng miền Trung đã xác định Keo lá liềm là loài cây trồng có triển vọng nhất. Đây là loài cây có khả năng thích nghi trong điều kiện khắc nghiệt của đất cát nội đồng, có khả năng sinh trưởng tốt trên cát nội đồng úng ngập khi được lên líp, vừa thích hợp trong điều kiện cát bay cục bộ nhờ bộ rễ đặc biệt phát triển. Ngoài ra, với bộ rễ có nhiều nốt sần và bộ tán lá dày, rụng lá nhiều nên có ưu thế trong việc cải tạo đất, cải tạo môi trường. Gỗ lớn dùng đóng đồ mộc, gỗ xây dựng, làm ván ghép thanh… Gỗ nhỏ dùng làm nguyên liệu giấy, dăm, ván sợi ép, trụ mỏ [11].