mở đầu bằng Chỉ thị 100 CT/TW của Ban bí thư TW Đảng ngày 13/01/1981. Sau 13 đó, thực hiện Nghị quyết 10, theo tinh thần đổi mới đã giải phóng được sức sản xuất, năng suất lao động cao. Tính chủ động, sáng tạo, quyền tự chủ và vai trò của hộ nông dân được khẳng định như là một thành phần kinh tế tự chủ trong nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, sau khi thực hiện khoán hộ ruộng đất bị chia nhỏ, manh mún đã gây cản trở đến quá trình hiện đại hoá nông nghiệp.
Vì vậy, trong tương lai cần tạo dựng cơ sở nền tảng từng bước phát triển mới trong nông nghiệp, nông thôn, đó là hình thành nên quy mô sản xuất trên ô thửa lớn bằng việc tích tụ ruộng đất và dồn ô đổi thửa, cùng với việc xác lập các hệ thống tổ chức sản xuất như HTX kiểu mới, hình thành các trang trại tập trung để phát triển sản xuất (Nguyễn Văn Khánh, 2001) [36]. Nhóm các yếu tố xã hội - Hệ thống thị trường và sự hình thành thị trường đất nông nghiệp, thị trường nông sản phẩm. Có 3 yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là: Năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất và thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra (Nguyễn Duy Tính, 1995) [67]. - Hệ thống chính sách (chính sách đất đai, giao quyền sử dụng ruộng đất ổn định lâu dài, chính sách điều chỉnh cơ cấu đầu tư, chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp.) - Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp của Nhà nước.
- Những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông nghiệp, trình độ năng lực của các chủ thể kinh doanh, trình độ đầu tư. Đánh giá tiềm năng đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp bền vững 1. Khái niệm Tiềm năng là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, tiềm năng có thể là những khả năng tiềm ẩn, những thế mạnh còn chưa được khai thác, chưa được biết đến hoặc chưa được sử dụng hợp lý vào các hoạt động vì lợi ích của con người (Bù i Văn Sy,̃ 2012) [59]. Đánh giá tiềm năng đất đai là quá trình xác định số lượng, chất lượng đất liên quan đến mục đích của đất được sử dụng.
Đó là việc phân chia hay phân hạng đất đai thành các nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi hay hạn chế trong sử dụng đất như độ 14 dốc, độ dày tầng đất, đá lẫn, tình trạng xói mòn, khô hạn, mặn hóa… để có thể lựa chọn những loại hình sử dụng đất phù hợp. Đánh giá tiề m năng đấ t đai cung cấ p về mă ̣t số lươ ̣ng, chấ t lươ ̣ng đấ t gắ n với mu ̣c đić h sử du ̣ng, mức đô ̣ thić h hơ ̣p và thuâ ̣n lơ ̣i, đây là cơ sở để phân bổ , bố trí quỹ đấ t hơ ̣p lý theo hướng bề n vững. Đánh giá tiề m năng đấ t đai là cơ sở cho quy hoa ̣ch phát triể n bề n vững kinh tế - xã hô ̣i, phát huy lơ ̣i thế so sánh theo đă ̣c trưng vùng, miề n (Đỗ Đình Sâm và cs. Mục đích của đánh giá tiềm năng đất đai là đánh giá được sự thích hợp của vùng đất với các mục tiêu sử dụng khác nhau theo mục đích và nhu cầu của con người; xác định những chỉ tiêu, yếu tố hạn chế gì đối với mục đích sử dụng được lựa chọn (Bùi Văn Sy,̃ 2012) [59].
Xác định mức độ thích hợp cao hay thấp của các kiểu sử dụng đất cho một đơn vị đất đai và tổng hợp cho toàn khu vực dựa trên so sánh yêu cầu kiểu sử dụng đất với đặc điểm các đơn vị đất đai (Đỗ Đình Sâm và cs. Như vậy, đánh giá đất đai thực chất là đánh giá tiềm năng đất đai và đều dựa trên việc so sánh đối chiếu giữa yêu cầu sử dụng đất đai của cây trồng với những đặc điểm đất đai của khoanh đất, vạt đất với một cây trồng cụ thể. Phương pháp đánh giá tiềm năng đất đai của một số nước trên thế giới a. Phương pháp đánh giá tiềm năng đất đai tại Mỹ Đánh giá tiềm năng đất đai của Mỹ dựa trên những yếu tố hạn chế gây trở ngại cho việc sử dụng đất.
Trong đó có những loại hạn chế lâu dài và những loại hạn chế tạm thời. Những hạn chế lâu dài là những hạn chế nếu chỉ tác động bằng cải tạo nhỏ thì không giải quyết được nên đòi hỏi đầu tư lớn. Những hạn chế tạm thời là những hạn chế có thể cải tạo bằng những biện pháp kỹ thuật và quản lý, ít tốn kém. Do vậy khi xác định tiềm năng đất đai đòi hỏi phải xem xét từng khoanh đất, vạt đất.
Những khoanh đất có mức độ hạn chế lớn, chi phối mạnh đến sử dụng đất cho một loại cây trồng cần đưa vào sản xuất thì khoanh đất đó sẽ không có tiềm năng hay không thích hợp đối với loại cây trồng đó mà không cần xem xét các yếu tố thuận lợi khác có trong đất. Hiện nay tại Mỹ đang sử dụng 2 phương pháp đánh giá tiềm năng đất đai gồm: - Phương pháp tổng hợp: Phân chia phức hệ lãnh thổ tự nhiên và đánh giá tiềm năng đất đai theo năng suất cây trồng trong nhiều năm (10 năm trở lên). Khi tiến hành 15 đánh giá tiềm năng đất đai, các nhà khoa học đã tiến hành phân hạng đất đai cho từng loại cây trồng chính, đặc biệt là cây lúa mì và xác định mối tương quan giữa đất đai với các giống lúa mì được trồng trên đó để đề ra những biện pháp thâm canh tăng năng suất (Đoàn Công Quỳ, 2000) [55]. - Phương pháp yếu tố: Bằng cách thống kê yếu tố tự nhiên và kinh tế để so sánh, lấy lợi nhuận tối đa là 100 điểm để làm mốc so sánh với các đất khác (Huỳnh Văn Chương, 2011) [24].
Ở mức tổng quát, Mỹ đã phân hạng đất đai bằng phương pháp quy nhóm đất phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp gọi là đánh giá tiềm năng đất. Người ta chia đất đai trong lãnh thổ Mỹ thành 8 nhóm khác nhau: Bốn nhóm đầu là thích hợp cho sản xuất nông nghiệp và bốn nhóm sau là những nhóm không thích hợp cho sản xuất nông nghiệp được dùng vào các mục đích sử dụng khác. Bốn nhóm đầu có mức thích hợp từ cao đến thấp, cụ thể như sau: Nhóm 1: Bao gồm những loại đất không có trở ngại gì trong khi sử dụng, thích hợp với nhiều loại cây trồng. Đặc điểm là tầng đất dày, không bị xói mòn, dễ canh tác, không đòi hỏi nhiều biện pháp chống xói mòn bảo vệ đất.
Nhóm 2: Bao gồm những loại đất cũng thích hợp với nhiều loại cây trồng, nhưng có chất lượng kém hơn nhóm 1, thể hiện một số hạn chế nhỏ. Nhóm 3: Thích hợp với nhiều loại cây trồng, nhưng khi sản xuất phải tuân thủ một số biện pháp bảo vệ đất, mức độ hạn chế của các yếu tố đã tăng lên. Nhóm 4: Gồm những loại đất thích hợp với một số loại cây trồng nhưng không thường xuyên, do đó phải có nhiều biện pháp cải tạo mới sử dụng có hiệu quả. Phương pháp đánh giá đất của Mỹ có hạn chế là không đi sâu vào nghiên cứu từng LUT cụ thể đối với sản xuất nông nghiệp và hiệu quả kinh tế, xã hội.
Tuy nhiên, phương pháp này rất quan tâm đến những yếu tố hạn chế trong quản lý và sử dụng đất có tính đến các vấn đề về môi trường, đây cũng chính là điểm mạnh của phương pháp nhằm mục đích duy trì và sử dụng đất bền vững (Đỗ Nguyên Hải, 2000) [30]. Phương pháp đánh giá tiềm năng đất đai ở Liên Xô (cũ) Đây là trường phái đánh giá tiềm năng đất theo quan điểm phát sinh, phát triển 16 của Docuchaep. Đánh giá đất dựa trên cơ sở các đặc tính khí hậu, địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng, nước ngầm và thực vật. Phương pháp đánh giá được hình thành từ đầu những năm 50, sau đó đã được phát triển và hoàn thiện vào năm 1986 để tiến hành đánh giá và thống kê chất lượng tài nguyên đất đai nhằm phục vụ cho mục đích xây dựng chiến lược quản lý và sử dụng đất cho các đơn vị hành chính và sản xuất trên lãnh thổ Liên bang Xô viết.
Trong đánh giá đất thường áp dụng phương pháp cho điểm các yếu tố trên cơ sở thang điểm chuẩn đã được xây dựng thống nhất. Đối chiếu giữa tính chất đất và điều kiện tự nhiên với yêu cầu của hệ thống cây trồng được lựa chọn để phân hạng đánh giá đất. Đơn vị đánh giá đất là các chủng loại đất, quy định đánh giá đất cho cây có tưới, đất được tiêu úng, đất trồng cây lâu năm, đất đồng cỏ. Chỉ tiêu đánh giá đất là năng suất, giá thành sản phẩm, mức hoàn vốn, địa tô cấp sai (phần lãi thuần túy) (Đào Châu Thu, Nguyễn Khang, 1998) [64].
Nguyên tắc đánh giá mức độ sử dụng đất thích hợp là phân chia khả năng sử dụng đất đai trên toàn lãnh thổ theo các nhóm và các lớp thích hợp. - Nhóm đất thích hợp được phân theo điều kiện vùng sinh thái đất đai tự nhiên, trên phạm vi vùng rộng lớn. - Lớp đất thích hợp là những vùng được tách ra theo sự khác biệt về loại hình thổ nhưỡng như điều kiện địa hình, mẫu chất, thành phần cơ giới, chế độ nước. Trong cùng một lớp sẽ có sự tương đồng về điều kiện sản xuất, khả năng ứng dụng kỹ thuật cũng như các biện pháp cải tạo và bảo vệ đất.
Việc phân hạng và đánh giá đất đai được thực hiện theo 3 bước: (1) Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng (so sánh các loại thổ nhưỡng theo tính chất tự nhiên); (2) Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai (yếu tố được xem xét kết hợp với khí hậu, độ ẩm, địa hình…); (3) Đánh giá kinh tế đất (chủ yếu đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của đất đai) (Huỳnh Văn Chương, 2011) [24]. Đánh giá đất đai theo quan điểm phát sinh của Liên Xô cũ đã được sử dụng rộng rãi ở các nước thuộc hệ thống XHCN cũ, ở Đông Âu và một vài nước khác ở châu Á, châu Phi. Kết quả đánh giá đất đã giúp cho việc hoạch định chiến lược sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên đất theo các phân vùng nông nghiệp tự nhiên hướng tới mục đích sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất hợp lý.