Luận Án Tiến Sĩ Về Dạy Học Truyện Ngắn Việt Nam Hiện Đại Ở Trường Trung Học Phổ Thông

Luận án tiến sĩ nghiên cứu phương pháp dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại tại trường trung học phổ thông, hướng tới phát triển năng lực học sinh.

Trường đại học

Trường Đại Học Trà Vinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2021

241
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Dạy Học Truyện Ngắn Việt Nam Hiện Đại

Dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại là một phần quan trọng trong chương trình giáo dục Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông. Nội dung này không chỉ giúp học sinh tiếp cận với văn học mà còn phát triển các năng lực cần thiết cho việc học tập và cuộc sống. Truyện ngắn Việt Nam hiện đại mang đến cho học sinh những trải nghiệm phong phú về văn hóa, tư tưởng và nghệ thuật. Việc dạy học thể loại này cần được thực hiện một cách khoa học và hiệu quả để đạt được mục tiêu giáo dục.

1.1. Ý Nghĩa Của Việc Dạy Học Truyện Ngắn

Dạy học truyện ngắn không chỉ giúp học sinh hiểu biết về văn học mà còn phát triển tư duy phản biện và khả năng cảm thụ nghệ thuật. Truyện ngắn Việt Nam hiện đại phản ánh sâu sắc đời sống xã hội, tâm tư và tình cảm của con người, từ đó giúp học sinh hình thành nhân cách và tư duy sáng tạo.

1.2. Các Tác Phẩm Tiêu Biểu Trong Chương Trình

Một số tác phẩm tiêu biểu như 'Chiếc thuyền ngoài xa' của Nguyễn Minh Châu hay 'Số đỏ' của Vũ Trọng Phụng không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn chứa đựng những thông điệp sâu sắc về cuộc sống. Việc phân tích các tác phẩm này giúp học sinh phát triển năng lực đọc hiểu và cảm thụ văn học.

II. Thách Thức Trong Dạy Học Truyện Ngắn Việt Nam Hiện Đại

Dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại gặp nhiều thách thức, từ việc lựa chọn tác phẩm đến phương pháp giảng dạy. Giáo viên cần phải đối mặt với sự đa dạng trong cách tiếp cận và nhu cầu của học sinh. Việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực là cần thiết để khắc phục những khó khăn này.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Lựa Chọn Tác Phẩm

Việc lựa chọn tác phẩm phù hợp với trình độ và sở thích của học sinh là một thách thức lớn. Nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao nhưng lại khó tiếp cận với học sinh. Do đó, giáo viên cần có sự cân nhắc kỹ lưỡng trong việc lựa chọn.

2.2. Phương Pháp Dạy Học Chưa Đáp Ứng Nhu Cầu

Nhiều giáo viên vẫn sử dụng phương pháp giảng dạy truyền thống, chưa phát huy được tính tích cực của học sinh. Cần có sự đổi mới trong phương pháp dạy học để khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập.

III. Phương Pháp Dạy Học Truyện Ngắn Hiện Đại Hiệu Quả

Để dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại hiệu quả, giáo viên cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Những phương pháp này không chỉ giúp học sinh tiếp cận văn bản một cách sâu sắc mà còn phát triển các kỹ năng cần thiết cho việc học tập.

3.1. Phương Pháp Thảo Luận Nhóm

Phương pháp thảo luận nhóm giúp học sinh trao đổi ý kiến, từ đó phát triển tư duy phản biện và khả năng giao tiếp. Học sinh sẽ được khuyến khích chia sẻ quan điểm cá nhân về tác phẩm, tạo ra không khí học tập sôi nổi.

3.2. Phương Pháp Dạy Học Tích Cực

Áp dụng các phương pháp dạy học tích cực như học qua dự án, học qua trải nghiệm giúp học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn phát triển kỹ năng thực hành. Việc này tạo ra sự hứng thú và động lực cho học sinh trong việc học tập.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Trong Dạy Học Truyện Ngắn

Việc ứng dụng các phương pháp dạy học vào thực tiễn là rất quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực đã mang lại kết quả khả quan trong việc phát triển năng lực cho học sinh.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Thực Tiễn

Nghiên cứu cho thấy rằng học sinh tham gia vào các hoạt động học tập tích cực có kết quả học tập tốt hơn. Việc áp dụng các phương pháp dạy học mới đã giúp học sinh phát triển khả năng đọc hiểu và cảm thụ văn học.

4.2. Các Mô Hình Dạy Học Thành Công

Một số mô hình dạy học thành công đã được áp dụng tại các trường trung học phổ thông, giúp nâng cao chất lượng dạy học. Những mô hình này có thể được nhân rộng và áp dụng tại nhiều trường khác nhau.

V. Kết Luận Về Dạy Học Truyện Ngắn Việt Nam Hiện Đại

Dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại là một nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục Ngữ văn. Việc phát triển năng lực cho học sinh thông qua thể loại này không chỉ giúp học sinh tiếp cận văn học mà còn hình thành nhân cách và tư duy sáng tạo. Cần có sự đổi mới trong phương pháp dạy học để đáp ứng yêu cầu giáo dục hiện đại.

5.1. Tương Lai Của Dạy Học Truyện Ngắn

Tương lai của dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại sẽ phụ thuộc vào sự đổi mới trong phương pháp giảng dạy và sự quan tâm của giáo viên. Cần có những nghiên cứu sâu hơn để phát triển các phương pháp dạy học hiệu quả.

5.2. Đề Xuất Giải Pháp Cải Tiến

Đề xuất các giải pháp cải tiến trong việc dạy học truyện ngắn, bao gồm việc tổ chức các buổi tập huấn cho giáo viên, phát triển tài liệu giảng dạy và khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động văn hóa, nghệ thuật.

24/07/2025
Luận án tiến sĩ dạy học truyện ngắn việt nam hiện đại ở trường trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Chương Tổng quan này giới thiệu, hệ thống hoá một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan trực tiếp đến nội dung đề tài theo ba cụm vấn đề, thứ nhất là những nghiên cứu về năng lực và CTGD theo định hướng PTNL người học; thứ hai là những nghiên cứu về thể loại truyện ngắn nói chung và truyện ngắn VNHĐ nói riêng; thứ ba là những nghiên cứu về dạy học truyện ngắn VNHĐ trong nhà trường phổ thông.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC VÀ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1.1 Những nghiên cứu về năng lực và chương trình giáo dục tiếp cận năng lực trên thế giới Trên thế giới, theo Sandra Kerka (1998) trong công trình nghiên cứu Competency- Based Education and Training. Myths and Realities (tạm dịch: Giáo dục và đào tạo tiếp cận năng lực. Huyền thoại và thực tế) [165] đã khẳng định rằng: giáo dục tiếp cận năng lực được hình thành và phát triển tại Mỹ vào những năm 1970; tiếp đó xu hướng này đã bùng nổ mạnh mẽ trong việc xây dựng CTGD mới những năm 1990 ở Mỹ, Anh, New Zealand, xứ Wales, Australia, Canada, Phần Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Indonesia v. Sở dĩ có sự phát triển mạnh mẽ này là do rất nhiều học giả xem tiếp cận năng lực là “cách thức để chuẩn bị lực lượng lao động cho một nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu” [165, tr.

Nhận định chung về sự phát triển của CTGD tiếp cận năng lực người học, trong bài báo Competency identification, modeling and assessment in the USA (tạm dịch: Năng lực – nhận diện, mô hình hoá và đánh giá ở Hoa Kỳ) [170, tr. (1999) viết: “Những quan tâm đến cách tiếp cận dựa trên năng lực đang tăng lên. Những người chuyên làm công tác đào tạo và phát triển đang sử dụng mô hình năng lực để xác định một cách rõ ràng những năng lực cụ thể của từng tổ chức để nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc thực hiện nhiệm vụ và thống nhất các khả năng của cá nhân với các năng lực cốt lõi của tổ chức. Các nhà giáo dục và các nhà hoạch định chính sách đang sử dụng các mô hình năng lực như là những phương tiện để xác định một cách rõ ràng và để gắn kết những đòi hỏi của thực tiễn với các chương trình giáo dục và đào tạo” [170, tr.

Trong hàng loạt những nghiên cứu như: Principles for Developing Competency- Based Education Programs (tạm dịch: Các nguyên tắc để phát triển chương trình giáo 8 dục theo hướng PTNL) của Sally M. Johnstone, Louis Soares (2014) [164], Competency-based Education: Supporting Personalized Learning (tạm dịch: Giáo dục theo hướng phát triển năng lực: hỗ trợ học tập theo cá nhân) của Janet S. Twyman (2014) [164], Examining the Basis for Competency-Based Education (tạm dịch: Đánh giá cơ bản cho giáo dục theo định hướng phát triển năng lực) của David Ainsworth (2016) [161], National Education Reform in Indonesia: Milestones and Strategies for the Reform Process (tạm dịch: Cải tổ giáo dục quốc gia ở Indonesia: những điều quan trọng và chiến lược cho quá trình cải tổ) của Dr. Ella Yulaelawati (2019) [177],… các tác giả nhìn chung đều thống nhất xác định: CTGD tiếp cận năng lực là chương trình nêu rõ kết quả đầu ra: tập trung vào hệ thống năng lực cần có ở mỗi người học, bao gồm cả kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, động cơ, đạo đức và hành vi xã hội được hình thành, phát triển trong quá trình dạy học ở nhà trường và tác động của gia đình, xã hội.

Nói cách khác, CTGD tiếp cận năng lực không chỉ cung cấp kiến thức cho HS mà chú trọng PTNL, đặc biệt là phát triển khả năng vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp. Vì thế, nếu CTGD tiếp cận nội dung quan tâm đến câu hỏi: HS biết cái gì từ những điều đã học? thì CTGD tiếp cận năng lực lại chú ý đến vấn đề: HS biết làm gì từ những điều đã học? Xây dựng CTGD phổ thông tiếp cận năng lực người học hiện là xu thế giáo dục tất yếu của hầu hết mọi quốc gia trên thế giới. Chẳng hạn, trong The New Zealand Curriculum (tạm dịch: Chương trình giáo dục New Zealand) [172]: năng lực được hiểu là “những khả năng mà mọi người sử dụng để sống, học tập, làm việc và đóng góp với tư cách là thành viên tích cực trong cộng đồng của họ”; và có 5 năng lực chính mà chương trình này tập trung vào phát triển cho HS trong suốt thời gian học tập ở trường phổ thông: (1) Tư duy - là việc sử dụng các quá trình tư duy để tạo ra thông tin, kinh nghiệm và ý tưởng; (2) Sử dụng ngôn ngữ, ký hiệu và văn bản - làm việc và hiểu các mã (ngôn ngữ và ký hiệu) trong văn bản, ở đó kiến thức được thể hiện; (3) Quản lý bản thân - có động lực tự thân, thái độ "có thể làm được" và coi bản thân là một người có khả năng học hỏi; (4) Quan hệ với người khác - là tương tác hiệu quả với nhiều người khác trong một loạt các tình huống khác nhau; (5) Tham gia và đóng góp - tham gia vào các hoạt động cộng đồng và có thể đóng góp, kết nối với những người khác. 9 Theo tài liệu Australian Curriculum, Assessment and Reporting Authority (ACARA) (tạm dịch: Cơ quan báo cáo và đánh giá Chương trình giáo dục Australia) [162]: năng lực được hiểu là một tổ hợp “bao gồm kiến thức, kỹ năng, hành vi và tư cách.

Học sinh phát triển năng lực khi vận dụng kiến thức và kỹ năng một cách tự tin, hiệu quả và phù hợp trong các hoàn cảnh phức tạp và luôn thay đổi, trong học tập ở trường cũng như trong cuộc sống bên ngoài nhà trường”. CTGD quốc gia Australia gồm 8 môn học: Tiếng Anh, Toán, Khoa học, Thể chất, Nhân học và Khoa học xã hội, Nghệ thuật, Công nghệ và Ngôn ngữ. Tất cả các môn học đều được thiết kế thành nhiều chủ đề đa dạng và sinh động, hướng đến phát triển 7 năng lực chung; bao gồm: (1) Năng lực Văn chương; (2) Năng lực Tính toán; (3) Năng lực Công nghệ thông tin và truyền thông; (4) Năng lực phản biện và sáng tạo; (5) Năng lực cá nhân và xã hội; (6) Năng lực luân lí (đạo đức); (7) Năng lực liên văn hóa [162]. Những năng lực chung này làm thành một tổng thể tích hợp kiến thức, kĩ năng, hành vi và tính cách, đào tạo người học thành những con người có khả năng học tập suốt đời, có thể hoạt động với sự tự tin trong một thế giới toàn cầu phức tạp và giàu thông tin.

Bên cạnh đó, từng môn học sẽ có nhiệm vụ phát triển những năng lực cụ thể v. Trên thực tế, dù mỗi quốc gia khác nhau có cách xác định khác nhau đối với khái niệm năng lực, hệ thống năng lực hay các biểu hiện cụ thể của năng lực, song tất cả đều có điểm chung là chú trọng hình thành những năng lực cốt lõi đảm bảo trang bị cho người học khả năng học tập suốt đời, đáp ứng những yêu cầu phát triển của xã hội hiện đại. Khi nghiên cứu cơ sở lý luận của việc thiết kế CTGD theo định hướng PTNL người học, các nhà khoa học giáo dục đều đưa ra khung năng lực, từ năng lực chung, các nhà khoa học đã xác định đặc trưng của năng lực, biểu hiện cụ thể của năng lực theo từng giai đoạn, các tiêu chí để đánh giá năng lực, kết quả đầu ra, phương pháp PTNL và thiết kế nội dung chương trình các môn học. Những nghiên cứu về năng lực và chương trình giáo dục tiếp cận năng lực ở Việt Nam Ngay từ năm 2010, hai tác giả Nguyễn Văn Cường và Bernd Meier đã có công trình Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông nghiên cứu chuyên sâu về đổi mới PPDH ở trường phổ thông theo định hướng PTNL.

Trong tài liệu này, hai tác giả đã tổng hợp các khái niệm về năng lực của một số tác giả nước ngoài thành một hệ thống các dấu hiệu đặc trưng của năng lực: 10 “(1) Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu dạy học: mục tiêu dạy học của môn học được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành; (2) Trong các môn học, những nội dung và hoạt động cơ bản được liên kết với nhau nhằm hình thành các năng lực; (3) Năng lực là sự kết hợp của tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn.; (4) Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động dạy học về mặt phương pháp; (5) Năng lực mô tả việc giải quyết những nhiệm vụ trong các tình huống: ví dụ như đọc một văn bản cụ thể. Nắm vững và vận dụng được các phép tính cơ bản .; (6) Các năng lực chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành cơ sở chung trong việc giáo dục và dạy học; (7) Mức độ đối với sự PTNL có thể được xác định trong các chuẩn: Đến một thời điểm nhất định nào đó, HS có thể, cần phải đạt được những gì?” [7, tr.43- 44] Từ những dấu hiệu đặc trưng đó, các tác giả cho rằng: Dạy học theo định hướng PTNL không chỉ chú ý tích cực hoá HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV - HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm PTNL xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm PTNL giải quyết các vấn đề phức hợp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ