Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu trên thế giới NL (competence) có nguồn gốc tiếng La tinh là “competentia” có nghĩa là gặp gỡ. Trong tiếng Anh, từ NL được sử dụng với nhiều nghĩa cụ thể gắn với các lĩnh vực khác nhau, trong những tình huống và ngữ cảnh riêng.
Có lẽ vì thế mà người Anh và một số nước sử dụng tiếng Anh có nhiều thuật ngữ khác nhau để diễn đạt những nội dung liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến VĐ NL. Đó là các từ Competence, Ability, Capability, Efficiency, Capacity, Potentiality, Aptitude… Tuy nhiên, thuật ngữ được sử dụng phổ biến nhất vẫn là Competence (hoặc Competency). Trên bình diện Triết học, NL “Hiểu theo nghĩa rộng là những đặc tính tâm lý của cá thể điều tiết hành vi của cá thể và là điều kiện sống của cá thể […] Hiểu theo nghĩa đặc biệt thì NL là toàn bộ những đặc tính tâm lý của con người khiến cho nó thích hợp với một hình thức HĐ nghề nghiệp nhất định đã hình thành trong lịch sử”. “NL của con người là sản phẩm của sự phát triển xã hội”, nó “không những do HĐ của bộ não quyết định mà trước hết là do trình độ phát triển mà loài người đã đạt được [43].
Từ góc độ Tâm lý học, NL “là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng HĐ nhất định” [35]. Theo Giáo dục học, NL là “khả năng được hình thành và phát triển cho phép con người đạt được thành công trong một HĐ thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp. NL được thể hiện ở khả năng thi hành một HĐ, thực thi một nhiệm vụ” (Dẫn [43]). Trong Lý luận DH hiện đại, NL được quan niệm là “điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức” [8].
Từ góc độ xã hội học, Rycher quan niệm: “NL làm việc là khả năng đáp ứng các yêu cầu hoặc tiến hành thành công một công việc. NL này bao gồm cả khía cạnh NT và phi NT” (dẫn [1]). Trong các định nghĩa, định nghĩa mà Perrenoud đưa ra có thể được xem là đầy đủ nhất và xác đáng nhất: "Một NL là khả năng hành động trước một giả định, tình luan an 8 huống mà người ta đạt tới làm chủ vì người ta có cả kiến thức cần thiết và khả năng huy động có ý thức các kiến thức này để nhận ra và để giải những VĐ thực". Tác giả còn chỉ rõ thêm: "Một NL, trước một tình huống phức tạp, cho phép xây dựng một câu trả lời thích hợp mà không cần lấy ra từ một kho các câu trả lời đã được xây dựng sẵn" (dẫn [137]).
Dù cách trình bày quan niệm về NL khác nhau do đứng từ các góc độ tiếp cận VĐ không giống nhau nhưng có thể thấy những điểm chung, đó là: NL là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm. NL của con người giống như một tảng băng trôi, bao gồm hai phần: phần nổi và phần chìm (theo [202]): - Phần nổi chiếm 10% - 20%: Đó là nền tảng được giáo dục, đào tạo, kinh nghiệm, kĩ năng, cảm xúc thật, … Phần có thể nhìn thấy được thông qua các hình thức đánh giá, phỏng vấn, quan sát, theo dõi sổ sách … - Phần chìm chiếm tới 80% - 90%: Là phong cách TD (Thinking style), đặc tính hành vi (Behavioral traits), sở thích nghề nghiệp (Occupational interests), sự phù hợp với công việc (Job fit), … Đây chính là tiềm ẩn mà khi người học tiến hành HĐ, GV và những người quản lý cần phát hiện, phát huy và phát triển. Về mô hình NL, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã sử dụng những mô hình NL khác nhau, có thể kể đến như: (1) Mô hình dựa trên cơ sở tính cách và hành vi của cá nhân theo đuổi cách xác định “con người cần phải như thế nào để thực hiện được các vai trò của mình”; (2) Mô hình dựa trên cơ sở các kiến thức hiểu biết và các kĩ năng được đòi hỏi theo đuổi việc xác định “con người cần phải có những kiến thức và kỹ năng gì” để thực hiện tốt vai trò của mình; (3) Mô hình dựa trên các kết quả và tiêu chuẩn đầu ra theo đuổi việc xác định con người “cần phải đạt được những gì ở nơi làm việc”. Trong các chương trình DH hiện nay của các nước thuộc OECD [189], người ta cũng sử dụng mô hình NL đơn giản hơn, phân chia NL thành hai nhóm chính, đó là các NL chung và các NL riêng.
Cũng trong lĩnh vực giáo dục, khi tiến hành xây dựng chương trình và đánh giá chất lượng đào tạo theo quan điểm tiếp cận kết quả đầu ra, các nhà nghiên cứu và quản lý GD cũng đã đề cập và tiến hành phân loại NL, Deborah Nusche (thuộc OECD) [189] đã chia NL đầu ra thành: NL nhận thức luan an 9 (Cognitive outcomes) và NL phi nhận thức (Non-cognitive outcomes). Cũng theo hướng này, tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) [154], đã chia NL đầu ra thành 3 nhóm NL: NL nhận thức (cognitive competencies), NL thái độ (attitudinal competencies) và NL nghề nghiệp (professional competencies). Theo định nghĩa về NL do trong Khung tham chiếu châu Âu, thì NL được thể hiện thông qua mô hình ASK, nghĩa là, NL là một tập hợp các Kiến thức (Knowledge), Kĩ NL cá thể NL chuyên môn năng (Skill) và Thái độ (Attitude) cho phép hành động trong một ngữ cảnh nào đó. Theo NL hành động quan điểm của các nhà sư phạm Đức [8], cấu trúc chung của NL hành động được mô tả là sự NL xã hội NL phương pháp kết hợp của 4 NL thành phần: NL chuyên môn (Professional competency), NL PP (Methodical Hình 1.
Cấu trúc năng lực hành động competency), NL xã hội (Social competency) và NL cá thể (Induvidual competency) (Hình 1. Mô hình cấu trúc NL trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau. Trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng mô tả các loại NL khác nhau và để hình thành NL nào đó thì phải tiến hành thông qua HĐ và HĐ thành phần. Các nghiên cứu ở trong nước Cũng giống như tiếng Anh, trong tiếng Việt, từ NL rất gần nghĩa với một số từ khác như tiềm năng, khả năng, kĩ năng, tài năng, thậm chí còn có nét nghĩa gần với năng khiếu.
Theo từ điển Tiếng Việt thì NL là (1) “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một HĐ nào đó; (2) Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại HĐ nào đó với chất lượng cao” [100]. Còn theo sách “Gốc và nghĩa từ Việt thông dụng”, NL là một từ Hán-Việt, trong đó “năng là làm nổi việc; lực là sức mạnh; NL là sức mạnh làm nổi việc nào đó” [128]. Từ những diễn giải trên của Từ điển Tiếng Việt, có thể thấy giữa NL và các từ đã nêu có điểm chung giống nhau: cùng chỉ khả năng của con người có thể thực hiện một (một số) việc nào đó. Tuy nhiên, ngay trong nghĩa Từ điển, nội hàm của NL đã có cái khác.
NL bao gồm cả khả năng sẵn có và được đào tạo để thực hiện luan an 10 công việc một cách hiệu quả ở chất lượng cao. Khác với tiềm năng, NL chủ yếu hiện ra trong hiện thực chứ không ở dạng tiềm tàng. Khác với khả năng nói chung, NL là “một mức độ nhất định của khả năng con người, biểu thị ở việc hoàn thành có kết quả một HĐ nào đó” [153]. NL cũng không giống với tài năng vì tài năng là “mức độ NL cao hơn, biểu thị sự hoàn thành một cách sáng tạo một HĐ nào đó” [43], và càng khác với năng khiếu – khả năng sẵn có có tính bẩm sinh.
Trần Luận cho rằng: “NL là những đặc điểm tâm lý cá nhân của con người đáp ứng được yêu cầu của một loại HĐ nhất định và là điều kiện cần thiết để hoàn thành có kết quả tốt đẹp loại HĐ đó” [86]. Theo tác giả, NL cần được hiểu theo nghĩa rộng nghĩa là có thể bao gồm các nhóm thành phần trí tuệ, xúc cảm, ý chí và thể chất. Sơ đồ dước đây mô tả cho quan điểm của tác giả Sơ đồ 1. Các thành phần của năng lực Các thành phần Các thành phần Các thành phần Các thành phần Trí tuệ Xúc cảm Ý chí Thể chất Sơ đồ 1.
Các thành phần của năng lực theo Trần Luận [86] Có thể thấy rằng, NL được tiếp cận theo rất nhiều cách khác nhau, trên cơ sở lựa chọn loại dấu hiệu khác nhau, nhưng điều quan trọng là đã bước đầu thống nhất được cách hiểu về nó, xét từ phương diện giáo dục, chúng tôi thấy có các đặc điểm chính sau: +) NL thể hiện các đặc thù tâm lí, sinh lí khác biệt của cá nhân, chịu ảnh hưởng của yếu tố bẩm sinh di truyền về mặt sinh học, được phát triển hay hạn chế còn do những điều kiện khác của môi trường sống. +) Những yếu tố bẩm sinh của NL cần có môi trường điều kiện xã hội (môi trường giáo dục) thuận lợi mới phát triển được. Do vậy NL không chỉ là yếu tố bẩm sinh, mà còn phát triển trong HĐ, bằng HĐ, được tồn tại và thể hiện trong HĐ cụ thể của cá nhân. +) Nói đến NL là nói đến NL trong một loại HĐ cụ thể.
+) Cấu trúc của NL bao gồm một tổ hợp nhiều kĩ năng thực hiện những hành động thành phần và có liên quan chặt chẽ với nhau. Đồng thời NL còn liên quan đến khả năng phán đoán, NT, hứng thú và tình cảm. luan an 11 +) Hình thành và phát triển những NL cơ bản cho người học trong học tập và đời sống là nhiệm vụ quan trọng của các nhà trường sư phạm. +) Việc đưa ra mô hình của NL là một VĐ khá phức tạp.
Tùy theo quan điểm tiếp cận mà người ta chia NL thành các dạng thức khác nhau và theo đó cũng xuất hiện nhiều kiểu NL khác nhau. Việc phân loại NL thành NL chung và riêng không chỉ có cơ sở triết học, giáo dục học, tâm lý học mà còn phù hợp với thực tiễn cuộc sống của mọi người.