Luận Án Tiến Sĩ Về Dạy Học Toán Cho Học Sinh Trung Học Chuyên Lí Hóa Sinh

Luận án tiến sĩ nghiên cứu phương pháp dạy học toán cho học sinh chuyên lí hóa sinh, tập trung vào bồi dưỡng năng lực khám phá và chiếm lĩnh tri thức.

Trường đại học

Trường Đại học Vinh

Chuyên ngành

Giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

250
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lí do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Giả thuyết khoa học

1.4. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Những đóng góp của Luận án và ý nghĩa của đề tài

1.7. Những nội dung đưa ra bảo vệ

1.8. Cấu trúc của Luận án

2. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.2. Các nghiên cứu trên thế giới

2.3. Các nghiên cứu ở trong nước

2.4. Các nghiên cứu về “khám phá”, “chiếm lĩnh” tri thức

2.5. Quan điểm về dạy học theo định hướng phát triển năng lực

2.5.1. Trên thế giới

2.5.2. Năng lực khám phá và chiếm lĩnh tri thức

2.5.3. Hoạt động, hoạt động nhận thức

2.5.3.1. Hoạt động nhận thức
2.5.3.2. Hoạt động khám phá và chiếm lĩnh tri thức

2.6. Vai trò, ý nghĩa của việc tổ chức các HĐ khám phá và chiếm lĩnh tri thức cho học sinh trong trong dạy học Toán

2.7. Khái niệm năng lực khám phá và chiếm lĩnh tri thức

2.8. Biểu hiện và các năng lực thành tố, các HĐ tương thích của năng lực khám phá và chiếm lĩnh tri thức của người học trong dạy học Toán

2.8.1. NLTT1: NL trải nghiệm, khám phá tình huống, phát hiện vấn đề, phát hiện mâu thuẫn xuất hiện trong TH, VĐ

2.8.2. NLTT2: NL quan sát, trực giác vấn đề, xây dựng và thực hiện việc xem xét, giải quyết VĐ theo logic hợp lí chung cho các vấn đề cùng loại

2.8.3. NLTT3: NL dự đoán và suy luận có lí, liên tưởng và huy động kiến thức, thực hiện các thao tác tư duy trong quá trình chiếm lĩnh tri thức

2.8.4. NLTT4: Năng lực sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp Toán học

2.8.5. NLTT5: Năng lực mô hình hóa Toán học các vấn đề thực tiễn

2.8.6. NLTT6: Năng lực phản biện và sáng tạo

2.9. Cấp độ của năng lực khám phá và chiếm lĩnh tri thức trong dạy học Toán ở trường phổ thông

2.10. Đặc điểm chính của học sinh THPT chuyên Lí, Hóa, Sinh

2.10.1. Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ ở HS trung học phổ thông

2.10.2. Đặc điểm của HS trung học phổ thông chuyên Lí, Hóa, Sinh

2.11. Quan điểm dạy học toán cho HS THPT chuyên theo định hướng phát triển năng lực khám phá và chiếm lĩnh tri thức

2.12. Thực trạng của việc bồi dưỡng cho học sinh năng lực khám phá và chiếm lĩnh tri thức trong dạy học môn Toán ở trường THPT chuyên

2.13. Kết luận Chương 1

3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƯ PHẠM GÓP PHẦN BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC KHÁM PHÁ VÀ CHIẾM LĨNH TRI THỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN

3.1. Định hướng xây dựng

3.2. Đảm bảo sự phù hợp với mục tiêu, nội dung và chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình môn Toán

3.3. Quán triệt quan điểm HĐ trong hình thành và phát triển NL khám phá và chiếm lĩnh tri thức

3.4. Xây dựng môi trường học tập hợp tác tích cực, trong đó HS là trung tâm, luôn được khuyến khích trải nghiệm - trao đổi - thảo luận - tìm tòi - khám phá và chiếm lĩnh tri thức

3.5. Chú trọng giúp HS tạo mối liên hệ giữa các nội dung Toán học, chú trọng liên hệ giữa Toán học và các môn Khoa học tư nhiên góp phần chiếm lĩnh tri thức, liên hệ vận dụng với thực tiễn, phát hiện và phát triển các ý tưởng mới trong quá trình dạy học

3.6. Các biện pháp sư phạm

3.6.1. Biện pháp 1: Tạo cơ hội cho học sinh luyện tập các hoạt động tương thích với các năng lực thành tố của năng lực khám phá và chiếm lĩnh tri thức thông qua cài đặt vào các tình huống dạy học khám phá, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

3.6.2. Biện pháp 2: Tăng cường các HĐ sử dụng PTTQ, các công cụ dạy học, các hoạt động liên quan đến khám phá bản chất vấn đề để HS rèn luyện khả năng quan sát và chủ động, hứng thú trọng việc chiếm lĩnh tri thức

3.6.3. Biện pháp 3: Tổ chức hoạt động dạy học theo hướng tích hợp và phân hóa, chú trọng bài toán dạng mô hình hóa toán học các vấn đề thực tiễn và các chủ đề học tập theo định hướng STEM

3.6.4. Biện pháp 4: Tổ chức cho học sinh luyện tập các thao tác tư duy và một số hoạt động trí tuệ khác để rèn luyện khả năng khám phá, xác định bản chất vấn đề theo lôgic các bước giải quyết vấn đề cũng như mở rộng vấn đề

3.6.5. Biện pháp 5: Tăng cường các hoạt động tạo cơ hội cho học sinh tranh luận, học tập cá nhân, các hoạt động phát hiện và sửa chữa các sai lầm, nhằm chiếm lĩnh tri thức và rèn luyện tư duy phản biện

3.6.6. Biện pháp 6: Tổ chức cho HS các HĐ phân tích, xác định mối quan hệ, các HĐ chuyển đổi ngôn ngữ dưới góc nhìn khác nhau, chú trọng tương tác trong giao tiếp TH, nhằm làm phong phú cách diễn đạt và tăng cơ hội GQVĐ, góp phần rèn luyện TD phản biện và sáng tạo

3.7. Kết luận chương 2

4. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

4.1. Mục đích thực nghiệm

4.2. Nội dung thực nghiệm

4.3. Tổ chức thực nghiệm

4.4. Đánh giá định tính theo quá trình thực nghiệm

4.5. Đánh giá qua bài kiểm tra

4.6. Nội dung đề kiểm tra

4.7. Đánh giá định tính đề kiểm tra

4.8. Đánh giá nội dung đề kiểm tra

4.9. Đánh giá định tính kết quả bài kiểm tra

4.10. Đánh giá định lượng kết quả bài kiểm tra

4.11. Kết luận chung về thực nghiệm

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Một số chủ đề, cách tổ chức quá trình dạy học góp phần bồi dưỡng NLKP và CLTT

Phụ lục 1.1. Chủ đề 1: Dạy chủ đề thể tích khối đa diện theo hướng tăng cường các HĐ trải nghiệm nhằm bồi dưỡng NL khám phá và chiếm lĩnh tri thức cho HS

Phụ lục 1.2. Chủ đề 2: Dạy học định lí 3 bài Hàm số liên tục, SGK Đại số và giải tích 11 theo hướng bồi dưỡng HS giỏi Toán

Phụ lục 1.3. Chủ đề 3: Dạy học chủ đề tọa độ theo hướng rèn luyện NL khám phá và chiếm lĩnh tri thức

Phụ lục 1.4. Chủ đề 4: Tổ chức dạy học theo dự án nội dung kiến thức “Hệ thức lượng trong tam giác” trong dạy học Hình học lớp 10 trung học phổ thông

Phụ lục 1.5. Chủ đề 5: Dạy học chủ đề đạo hàm theo mối quan hệ liên môn với Vật lí cho HS hệ chuyên Lí

Phụ lục 2. Phiếu xin ý kiến

Tóm tắt

I. Giới thiệu về dạy học toán cho học sinh trung học chuyên lí hóa sinh

Dạy học toán cho học sinh trung học chuyên lí hóa sinh không chỉ đơn thuần là truyền đạt kiến thức mà còn là quá trình bồi dưỡng năng lực khám phá và chiếm lĩnh tri thức. Dạy học toán cần được thiết kế sao cho phù hợp với đặc điểm của học sinh chuyên, giúp các em phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề. Việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại, như phương pháp khám phá, sẽ tạo điều kiện cho học sinh tự mình tìm ra kiến thức, từ đó nâng cao năng lực khám phá tri thức. Theo nghiên cứu, việc tổ chức các hoạt động học tập tích cực sẽ giúp học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn phát triển các kỹ năng cần thiết cho tương lai.

1.1. Đặc điểm của học sinh trung học chuyên lí hóa sinh

Học sinh trung học chuyên lí hóa sinh thường có khả năng tư duy logic tốt và yêu thích việc khám phá các vấn đề phức tạp. Đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Học sinh trong các lớp chuyên thường có động lực học tập cao và thích tham gia vào các hoạt động trải nghiệm. Điều này cho thấy rằng việc bồi dưỡng năng lực khám pháchiếm lĩnh tri thức là rất cần thiết. Các em cần được khuyến khích tham gia vào các hoạt động học tập chủ động, từ đó phát triển khả năng tự học và sáng tạo.

II. Phương pháp dạy học toán theo định hướng bồi dưỡng năng lực

Phương pháp dạy học toán cần được thiết kế theo hướng bồi dưỡng năng lực khám phá và chiếm lĩnh tri thức cho học sinh. Việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực như học tập hợp tác, học tập trải nghiệm sẽ giúp học sinh phát triển tư duy độc lập và khả năng giải quyết vấn đề. Giáo dục toán học không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức mà còn phải tạo ra môi trường học tập khuyến khích sự sáng tạo và khám phá. Các hoạt động học tập cần được tổ chức sao cho học sinh có thể tự mình tìm ra giải pháp cho các vấn đề thực tiễn, từ đó nâng cao năng lực tư duy và khả năng ứng dụng kiến thức vào thực tiễn.

2.1. Các biện pháp sư phạm trong dạy học toán

Các biện pháp sư phạm cần được áp dụng để bồi dưỡng năng lực khám phá và chiếm lĩnh tri thức cho học sinh. Việc tạo ra các tình huống học tập thực tiễn sẽ giúp học sinh có cơ hội áp dụng kiến thức vào thực tế. Các hoạt động như thảo luận nhóm, giải quyết vấn đề thực tiễn, và các dự án học tập sẽ giúp học sinh phát triển kỹ năng làm việc nhóm và khả năng tư duy phản biện. Phương pháp dạy học cần chú trọng đến việc tạo ra môi trường học tập tích cực, nơi học sinh có thể tự do khám phá và sáng tạo.

III. Đánh giá thực trạng và nhu cầu bồi dưỡng năng lực

Đánh giá thực trạng dạy học toán cho học sinh trung học chuyên lí hóa sinh cho thấy nhiều vấn đề cần được cải thiện. Học sinh thường gặp khó khăn trong việc áp dụng kiến thức vào thực tiễn và thiếu tự tin khi tham gia vào các hoạt động học tập. Nhu cầu bồi dưỡng năng lực khám pháchiếm lĩnh tri thức là rất lớn. Việc tổ chức các hoạt động học tập phù hợp sẽ giúp học sinh phát triển khả năng tự học và sáng tạo. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học toán trong các trường chuyên.

3.1. Thực trạng dạy học toán hiện nay

Thực trạng dạy học toán hiện nay cho thấy rằng nhiều giáo viên vẫn còn sử dụng phương pháp dạy học truyền thống, dẫn đến việc học sinh không phát huy được khả năng tư duy và sáng tạo. Học sinh thường thiếu động lực học tập và không tự tin khi giải quyết các vấn đề toán học. Cần có sự thay đổi trong phương pháp dạy học để phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của học sinh chuyên. Việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực sẽ giúp học sinh phát triển năng lực tư duy và khả năng giải quyết vấn đề một cách hiệu quả.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu trên thế giới NL (competence) có nguồn gốc tiếng La tinh là “competentia” có nghĩa là gặp gỡ. Trong tiếng Anh, từ NL được sử dụng với nhiều nghĩa cụ thể gắn với các lĩnh vực khác nhau, trong những tình huống và ngữ cảnh riêng.

Có lẽ vì thế mà người Anh và một số nước sử dụng tiếng Anh có nhiều thuật ngữ khác nhau để diễn đạt những nội dung liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến VĐ NL. Đó là các từ Competence, Ability, Capability, Efficiency, Capacity, Potentiality, Aptitude… Tuy nhiên, thuật ngữ được sử dụng phổ biến nhất vẫn là Competence (hoặc Competency). Trên bình diện Triết học, NL “Hiểu theo nghĩa rộng là những đặc tính tâm lý của cá thể điều tiết hành vi của cá thể và là điều kiện sống của cá thể […] Hiểu theo nghĩa đặc biệt thì NL là toàn bộ những đặc tính tâm lý của con người khiến cho nó thích hợp với một hình thức HĐ nghề nghiệp nhất định đã hình thành trong lịch sử”. “NL của con người là sản phẩm của sự phát triển xã hội”, nó “không những do HĐ của bộ não quyết định mà trước hết là do trình độ phát triển mà loài người đã đạt được [43].

Từ góc độ Tâm lý học, NL “là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng HĐ nhất định” [35]. Theo Giáo dục học, NL là “khả năng được hình thành và phát triển cho phép con người đạt được thành công trong một HĐ thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp. NL được thể hiện ở khả năng thi hành một HĐ, thực thi một nhiệm vụ” (Dẫn [43]). Trong Lý luận DH hiện đại, NL được quan niệm là “điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức” [8].

Từ góc độ xã hội học, Rycher quan niệm: “NL làm việc là khả năng đáp ứng các yêu cầu hoặc tiến hành thành công một công việc. NL này bao gồm cả khía cạnh NT và phi NT” (dẫn [1]). Trong các định nghĩa, định nghĩa mà Perrenoud đưa ra có thể được xem là đầy đủ nhất và xác đáng nhất: "Một NL là khả năng hành động trước một giả định, tình luan an 8 huống mà người ta đạt tới làm chủ vì người ta có cả kiến thức cần thiết và khả năng huy động có ý thức các kiến thức này để nhận ra và để giải những VĐ thực". Tác giả còn chỉ rõ thêm: "Một NL, trước một tình huống phức tạp, cho phép xây dựng một câu trả lời thích hợp mà không cần lấy ra từ một kho các câu trả lời đã được xây dựng sẵn" (dẫn [137]).

Dù cách trình bày quan niệm về NL khác nhau do đứng từ các góc độ tiếp cận VĐ không giống nhau nhưng có thể thấy những điểm chung, đó là: NL là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm. NL của con người giống như một tảng băng trôi, bao gồm hai phần: phần nổi và phần chìm (theo [202]): - Phần nổi chiếm 10% - 20%: Đó là nền tảng được giáo dục, đào tạo, kinh nghiệm, kĩ năng, cảm xúc thật, … Phần có thể nhìn thấy được thông qua các hình thức đánh giá, phỏng vấn, quan sát, theo dõi sổ sách … - Phần chìm chiếm tới 80% - 90%: Là phong cách TD (Thinking style), đặc tính hành vi (Behavioral traits), sở thích nghề nghiệp (Occupational interests), sự phù hợp với công việc (Job fit), … Đây chính là tiềm ẩn mà khi người học tiến hành HĐ, GV và những người quản lý cần phát hiện, phát huy và phát triển. Về mô hình NL, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã sử dụng những mô hình NL khác nhau, có thể kể đến như: (1) Mô hình dựa trên cơ sở tính cách và hành vi của cá nhân theo đuổi cách xác định “con người cần phải như thế nào để thực hiện được các vai trò của mình”; (2) Mô hình dựa trên cơ sở các kiến thức hiểu biết và các kĩ năng được đòi hỏi theo đuổi việc xác định “con người cần phải có những kiến thức và kỹ năng gì” để thực hiện tốt vai trò của mình; (3) Mô hình dựa trên các kết quả và tiêu chuẩn đầu ra theo đuổi việc xác định con người “cần phải đạt được những gì ở nơi làm việc”. Trong các chương trình DH hiện nay của các nước thuộc OECD [189], người ta cũng sử dụng mô hình NL đơn giản hơn, phân chia NL thành hai nhóm chính, đó là các NL chung và các NL riêng.

Cũng trong lĩnh vực giáo dục, khi tiến hành xây dựng chương trình và đánh giá chất lượng đào tạo theo quan điểm tiếp cận kết quả đầu ra, các nhà nghiên cứu và quản lý GD cũng đã đề cập và tiến hành phân loại NL, Deborah Nusche (thuộc OECD) [189] đã chia NL đầu ra thành: NL nhận thức luan an 9 (Cognitive outcomes) và NL phi nhận thức (Non-cognitive outcomes). Cũng theo hướng này, tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) [154], đã chia NL đầu ra thành 3 nhóm NL: NL nhận thức (cognitive competencies), NL thái độ (attitudinal competencies) và NL nghề nghiệp (professional competencies). Theo định nghĩa về NL do trong Khung tham chiếu châu Âu, thì NL được thể hiện thông qua mô hình ASK, nghĩa là, NL là một tập hợp các Kiến thức (Knowledge), Kĩ NL cá thể NL chuyên môn năng (Skill) và Thái độ (Attitude) cho phép hành động trong một ngữ cảnh nào đó. Theo NL hành động quan điểm của các nhà sư phạm Đức [8], cấu trúc chung của NL hành động được mô tả là sự NL xã hội NL phương pháp kết hợp của 4 NL thành phần: NL chuyên môn (Professional competency), NL PP (Methodical Hình 1.

Cấu trúc năng lực hành động competency), NL xã hội (Social competency) và NL cá thể (Induvidual competency) (Hình 1. Mô hình cấu trúc NL trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau. Trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng mô tả các loại NL khác nhau và để hình thành NL nào đó thì phải tiến hành thông qua HĐ và HĐ thành phần. Các nghiên cứu ở trong nước Cũng giống như tiếng Anh, trong tiếng Việt, từ NL rất gần nghĩa với một số từ khác như tiềm năng, khả năng, kĩ năng, tài năng, thậm chí còn có nét nghĩa gần với năng khiếu.

Theo từ điển Tiếng Việt thì NL là (1) “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một HĐ nào đó; (2) Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại HĐ nào đó với chất lượng cao” [100]. Còn theo sách “Gốc và nghĩa từ Việt thông dụng”, NL là một từ Hán-Việt, trong đó “năng là làm nổi việc; lực là sức mạnh; NL là sức mạnh làm nổi việc nào đó” [128]. Từ những diễn giải trên của Từ điển Tiếng Việt, có thể thấy giữa NL và các từ đã nêu có điểm chung giống nhau: cùng chỉ khả năng của con người có thể thực hiện một (một số) việc nào đó. Tuy nhiên, ngay trong nghĩa Từ điển, nội hàm của NL đã có cái khác.

NL bao gồm cả khả năng sẵn có và được đào tạo để thực hiện luan an 10 công việc một cách hiệu quả ở chất lượng cao. Khác với tiềm năng, NL chủ yếu hiện ra trong hiện thực chứ không ở dạng tiềm tàng. Khác với khả năng nói chung, NL là “một mức độ nhất định của khả năng con người, biểu thị ở việc hoàn thành có kết quả một HĐ nào đó” [153]. NL cũng không giống với tài năng vì tài năng là “mức độ NL cao hơn, biểu thị sự hoàn thành một cách sáng tạo một HĐ nào đó” [43], và càng khác với năng khiếu – khả năng sẵn có có tính bẩm sinh.

Trần Luận cho rằng: “NL là những đặc điểm tâm lý cá nhân của con người đáp ứng được yêu cầu của một loại HĐ nhất định và là điều kiện cần thiết để hoàn thành có kết quả tốt đẹp loại HĐ đó” [86]. Theo tác giả, NL cần được hiểu theo nghĩa rộng nghĩa là có thể bao gồm các nhóm thành phần trí tuệ, xúc cảm, ý chí và thể chất. Sơ đồ dước đây mô tả cho quan điểm của tác giả Sơ đồ 1. Các thành phần của năng lực Các thành phần Các thành phần Các thành phần Các thành phần Trí tuệ Xúc cảm Ý chí Thể chất Sơ đồ 1.

Các thành phần của năng lực theo Trần Luận [86] Có thể thấy rằng, NL được tiếp cận theo rất nhiều cách khác nhau, trên cơ sở lựa chọn loại dấu hiệu khác nhau, nhưng điều quan trọng là đã bước đầu thống nhất được cách hiểu về nó, xét từ phương diện giáo dục, chúng tôi thấy có các đặc điểm chính sau: +) NL thể hiện các đặc thù tâm lí, sinh lí khác biệt của cá nhân, chịu ảnh hưởng của yếu tố bẩm sinh di truyền về mặt sinh học, được phát triển hay hạn chế còn do những điều kiện khác của môi trường sống. +) Những yếu tố bẩm sinh của NL cần có môi trường điều kiện xã hội (môi trường giáo dục) thuận lợi mới phát triển được. Do vậy NL không chỉ là yếu tố bẩm sinh, mà còn phát triển trong HĐ, bằng HĐ, được tồn tại và thể hiện trong HĐ cụ thể của cá nhân. +) Nói đến NL là nói đến NL trong một loại HĐ cụ thể.

+) Cấu trúc của NL bao gồm một tổ hợp nhiều kĩ năng thực hiện những hành động thành phần và có liên quan chặt chẽ với nhau. Đồng thời NL còn liên quan đến khả năng phán đoán, NT, hứng thú và tình cảm. luan an 11 +) Hình thành và phát triển những NL cơ bản cho người học trong học tập và đời sống là nhiệm vụ quan trọng của các nhà trường sư phạm. +) Việc đưa ra mô hình của NL là một VĐ khá phức tạp.

Tùy theo quan điểm tiếp cận mà người ta chia NL thành các dạng thức khác nhau và theo đó cũng xuất hiện nhiều kiểu NL khác nhau. Việc phân loại NL thành NL chung và riêng không chỉ có cơ sở triết học, giáo dục học, tâm lý học mà còn phù hợp với thực tiễn cuộc sống của mọi người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận Án Tiến Sĩ Về Dạy Học Toán Cho Học Sinh Trung Học Chuyên Lí Hóa Sinh" của tác giả Nguyễn Trần Lâm, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Văn Thuận và GS. Đào Tam, được thực hiện tại Trường Đại học Vinh vào năm 2019. Bài viết tập trung vào việc phát triển năng lực khám phá và chiếm lĩnh tri thức cho học sinh trung học phổ thông chuyên lí hóa, sinh. Nội dung của luận án không chỉ cung cấp những phương pháp dạy học hiệu quả mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bồi dưỡng năng lực cho học sinh, giúp họ tự tin hơn trong việc tiếp cận và giải quyết các vấn đề toán học phức tạp.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực giáo dục và phương pháp dạy học, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Luận án tiến sĩ về phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh vùng Tây Bắc trong dạy học hóa học phi kim", nơi nghiên cứu về cách phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Bên cạnh đó, "Luận Án Tiến Sĩ Về Dạy Học Xác Suất Thống Kê Tại Trường Trung Học Phổ Thông" cũng là một tài liệu hữu ích, cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp dạy học trong môn toán. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Luận văn thạc sĩ: Phát triển năng lực tự học cho học sinh qua hệ thống bài tập hóa học lớp 12", giúp bạn nắm bắt được cách thức phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua các bài tập thực tiễn. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp dạy học hiện đại trong lĩnh vực giáo dục.