Luận văn thạc sỹ về dạy học tích phân theo hướng khám phá cho lớp 12

Tài liệu nghiên cứu Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục dạy học tích phân theo hướng khám phá cho lớp 12 trung học phổ, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

107
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về dạy học tích phân

Dạy học tích phân cho học sinh lớp 12 là một phần quan trọng trong chương trình giáo dục trung học phổ thông. Tích phân không chỉ là một khái niệm toán học mà còn là công cụ hữu ích trong nhiều lĩnh vực khác nhau như vật lý, kinh tế và kỹ thuật. Việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực, đặc biệt là dạy học khám phá, giúp học sinh phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề. Theo nghiên cứu, việc học tập thông qua khám phá tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích học sinh tự tìm tòi và phát hiện kiến thức mới. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng giáo dục lớp 12 mà còn giúp học sinh hình thành kỹ năng cần thiết cho tương lai.

1.1. Tầm quan trọng của tích phân trong toán học

Tích phân là một trong những chủ đề cốt lõi trong toán học và có vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy toán học của học sinh. Nó giúp học sinh hiểu rõ hơn về các khái niệm như diện tích, thể tích và các ứng dụng thực tiễn khác. Việc dạy học tích phân theo hướng khám phá không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn khuyến khích sự sáng tạo và khả năng tư duy độc lập. Theo các chuyên gia, việc áp dụng bài tập tích phân trong thực tế sẽ giúp học sinh nhận thức rõ hơn về giá trị của toán học trong cuộc sống hàng ngày.

II. Phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực là một trong những phương pháp hiệu quả nhất trong việc giảng dạy tích phân cho học sinh lớp 12. Phương pháp này không chỉ tập trung vào việc truyền đạt kiến thức mà còn khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình học tập. Hướng dẫn dạy học tích phân cần được thiết kế sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh, từ đó tạo ra môi trường học tập tích cực và sáng tạo. Việc sử dụng các công cụ như tài liệu học tập, bài giảng tích phân và các hoạt động nhóm sẽ giúp học sinh phát triển kỹ năng làm việc nhóm và khả năng giao tiếp.

2.1. Các biện pháp dạy học tích cực

Để nâng cao hiệu quả dạy học tích phân, giáo viên cần áp dụng một số biện pháp như thiết kế hệ thống câu hỏi gợi ý, lựa chọn nội dung phù hợp và tổ chức các hoạt động khám phá. Việc rèn luyện các kỹ năng như khái quát hóa và đặc biệt hóa cũng rất quan trọng. Học sinh cần được khuyến khích tham gia vào các hoạt động tương tác, từ đó phát triển khả năng khám phá và sáng tạo trong học tập. Theo nghiên cứu, những biện pháp này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về tích phân mà còn tạo ra niềm đam mê học tập và khám phá kiến thức mới.

III. Thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm là một phần không thể thiếu trong quá trình dạy học tích phân. Qua thực nghiệm, giáo viên có thể đánh giá hiệu quả của các phương pháp dạy học đã áp dụng. Việc tổ chức thực nghiệm tại các trường trung học phổ thông sẽ giúp giáo viên thu thập dữ liệu và phân tích kết quả, từ đó điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp. Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng việc áp dụng phương pháp dạy học khám phá trong dạy học tích phân đã mang lại những kết quả tích cực, giúp học sinh nâng cao khả năng giải toán và phát triển tư duy phản biện.

3.1. Kết quả thực nghiệm

Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng học sinh tham gia vào các hoạt động khám phá có sự tiến bộ rõ rệt trong việc hiểu và áp dụng kiến thức về tích phân. Học sinh không chỉ nắm vững lý thuyết mà còn có khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Điều này chứng tỏ rằng dạy học tích phân theo hướng khám phá không chỉ nâng cao chất lượng dạy học mà còn giúp học sinh phát triển toàn diện hơn. Các giáo viên cũng nhận thấy rằng việc áp dụng phương pháp này đã tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích học sinh tham gia và đóng góp ý kiến trong quá trình học tập.

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn đƣợc trình bày trong ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn. Chƣơng 2: Dạy học tích phân theo hƣớng khám phá Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 5 http://www.vn/ Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Vấn đề đổi mới phƣơng pháp dạy học hiện nay 1. Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học Nghị quyết hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ƣơng khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cũng đặt ra nhiệm vụ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc.

Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tao cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực”. [4] Sự phát triển xã hội và đổi mới đất nƣớc trong thời kỳ hội nhập đang đòi hỏi cấp bách nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo. Mục tiêu giáo dục trong thời đại mới là không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những kiến thức, kỹ năng có sẵn cho HS mà điều đặc biệt quan trọng là phải bồi dƣỡng cho HS năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề. Trong quá trình dạy học, cùng với những thay đổi về mục tiêu, nội dung, cần có những thay đổi căn bản về phƣơng pháp dạy học (hiểu theo nghĩa rộng gồm cả hình thức, phƣơng tiện và kiểm tra, đánh giá).

Tồn tại của PPDH hiện nay là việc GV thƣờng cung cấp cho HS những tri thức dƣới dạng có sẵn, thiếu yếu tố tìm tòi, khám phá; việc GV dạy chay, áp đặt kiến thức khiến HS thụ động trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Đây là những lý do dẫn tới nhu cầu đổi mới PPDH nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo con ngƣời lao động sáng tạo phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nƣớc. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học Từ nhu cầu đổi mới PPDH, các nhà khoa học giáo dục nƣớc ta nhƣ Nguyễn Bá Kim, Nguyễn Hữu Châu, Thái Duy Tuyên, Trần Kiều, Trần Bá Hoành,. đã khẳng định hƣớng đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay là: “PPDH cần hướng vào việc tổ chức cho người học học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu” [7, tr.

Cũng theo Nguyễn Bá Kim, định hƣớng trên có những hàm ý sau đây: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 6 http://www.vn/ - Xác lập vị trí chủ thể của HS, đảm bảo tính tự giác, tích cực và sáng tạo của HS. - Quá trình dạy học là xây dựng những tình huống có dụng ý sƣ phạm cho HS học tập trong hoạt động và bằng hoạt động, đƣợc thực hiện độc lập hoặc trong hoạt động. - Dạy việc học, dạy tự học thông qua toàn bộ quá trình dạy học. - Chế tạo và khai thác những phƣơng tiện phục vụ quá trình dạy học.

- Tạo niềm lạc quan học tập dựa trên lao động và thành quả của HS. - Xác định vai trò mới của GV với tƣ cách ngƣời thiết kế, uỷ thác, điều khiển và thể chế hoá. Vì vậy, định hƣớng đổi mới PPDH liên quan đến một tƣ tƣởng trong quá trình thực hiện đổi mới PPDH ở nƣớc ta đó là "Dạy học lấy học sinh làm trung tâm". Do đó, chúng tôi nhận thấy việc đổi mới PPDH hiện nay cần tiếp cận theo những định hƣớng này.

Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực Một PPDH nếu biết sử dụng đúng lúc, đúng cách đều có thể phát huy tính tích cực học tập của HS. Theo Trần Bá Hoành: "Học tập là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đi học, tính tích cực trong hoạt động học tập - về thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trƣng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức [5, tr. Trần Kiều cũng quan niệm: “Tính tích cực ở đây là tích cực trong hoạt động nhận thức, là tích cực một cách chủ động, đƣợc hiểu theo nghĩa là ngƣời học chủ động trong toàn bộ quá trình tìm tòi phát hiện và giải quyết nhiệm vụ nhận thức dƣới sự hƣớng dẫn, tổ chức của GV. Tính tích cực thể hiện ở các cấp độ: bắt chƣớc, tái hiện, tìm tòi, sáng tạo” [6, tr.

PPDH tích cực là thuật ngữ chỉ các PPDH có thế mạnh trong phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS. PPDH tích cực hƣớng tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá HS. Có thể nêu bốn dấu hiệu đặc trƣng cơ bản của PPDH tích cực đó là: - Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS. - Dạy và học chú trọng rèn luyện phƣơng pháp tự học.

- Tăng cƣờng học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác. - Kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá của HS. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 7 http://www.vn/ Dấu hiệu của tính tích cực rất đa dạng và việc tích cực hoá hoạt động nhận thức rất phức tạp. Việc tích cực hoá phải đem lại kết quả đƣợc nhận thấy ở sự tăng cƣờng độ, tốc độ, nhịp độ của hoạt động cũng nhƣ tính bền vững của quá trình nhận thức.

Điều này giải thích quan niệm coi tính tích cực nhƣ là mức độ cao của hoạt động nhận thức. Nó đem lại hiệu quả trí dục và có ý nghĩa cải tạo đối tƣợng nhận thức. Cần phân biệt khái niệm tính tích cực với khái niệm tích cực hoá. Nếu tính tích cực là một phẩm chất của nhân cách, liên quan đến sự nỗ lực hoạt động của HS, thì tích cực hoá lại là việc làm của GV.

Phƣơng pháp dạy học khám phá 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu dạy học khám phá 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Cho đến nay, DHKP không còn xa lạ đối với nền giáo dục trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Ngƣời đƣợc coi là đƣa ra cơ sở bƣớc đầu và khởi nguồn của lí luận DHKP là nhà triết học chuyên nghiên cứu tâm lý học thực hành và chuyên về sƣ phạm, ngƣời Đan Mạch – John Dewey (1859-1952) nhƣng làm việc và nghiên cứu tại Đại học Havard (Mỹ).

Năm 1910, ông đƣa ra quan điểm về sử dụng tìm tòi, khám phá để dạy học khoa học.Dewey khuyến khích các GV khoa học sử dụng tìm tòi, khám phá nhƣ một chiến lƣợc dạy học. Theo mô hình của J.Dewey: trong quá trình dạy học, HS tích cực tham gia còn GV đóng vai trò là ngƣời điều khiển và hƣớng dẫn. Tuy nhiên, để có thể mở ra một thời kì mới cho việc xây dựng lí luận về hƣớng DHKP, không thể không nhắc đến những đóng góp to lớn của nhà sinh học, tâm lí học, ngƣời Thụy Sĩ – Jean Piaget (1896-1980) và nhà tâm lí học Xô Viết L. Piaget tin tƣởng rằng trẻ em xây dựng kiến thức cho riêng mình.

Ông đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giảng dạy trẻ em ở một mức độ phát triển thích hợp và coi trong vai trò của kiến thức đã biết. Còn quan điểm của Vygotxki, trẻ em sáng tạo ra các ý tƣởng riêng của mình. Là ngƣời phát triển các khái niệm về học tập hỗ trợ, kiến tạo xã hội, ông cũng đề xuất rằng vai trò của GV là để hỗ trợ và hƣớng dẫn học tập bẳng cách giúp HS phát triển những kĩ năng tƣ duy bậc cao hơn để sau đó họ có thể sử dụng một cách độc lập. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 8 http://www.vn/ DHKP chỉ thực sự đƣợc sử dụng rộng rãi ở nƣớc Mĩ nới riêng và trên toàn thế giới nói chung sau sự kiện Sputnik những năm giữa thế kỉ XX.

Những ngƣời đại biểu cho lí luận DHKP thời kì này có thể kể đến Joseph Jackson Schwab (1909-1988), S. Nối tiếp tƣ tƣởng của J.Dewey, Schwab (1960) – Giáo sƣ đại học Chicago - tiếp tục quan tâm lí luận dạy học khoa học bằng phƣơng pháp khám phá. Ông khuyến khích GV sử dụng phòng thí nghiệm để giúp HS học tập các khái niệm khoa học. Khá tƣơng đồng ý tƣởng của Schwab, với tác phẩm nổi tiếng “Quá trình giáo dục” (1960), J.Bruner đƣợc coi là một trong những ngƣời có công đầu tiên nghiên cứu để áp dụng thành công phƣơng pháp khám phá vào thực tiễn dạy học.

Đó là một “văn bản mang tính bƣớc ngoặt”, trong đó, trẻ em đƣợc xem nhƣ những ngƣời hoạt động giải quyết vấn đề, sẵn sàng tìm tòi, khám phá và đối mặt với “khó khăn”. Tƣ tƣởng học tập khám phá của J.Bruner thực sự đã có ảnh hƣởng trực tiếp đến sự hình thành chính sách ở Mĩ và ảnh hƣởng đến suy nghĩ, định hƣớng của đông đảo GV, học giả thời kì này. Tuy nhiên, ngƣời đƣợc coi là cha đẻ của chƣơng trình dạy học khám phá đƣợc sử dụng rộng rãi khắp nƣớc Mĩ là J.Richard Suchman, ông cho rằng :“Khám phá là cách mọi người học khi họ đơn độc”. Đối với Suchman, khám phá là một cách tự nhiên mà loài ngƣời tìm hiểu về môi trƣờng của mình.

Hãy nghĩ đến một đứa trẻ bị để một mình ở một sân chơi với một số đồ vật để em tự do khám phá. Đứa trẻ, không cần đến sự dỗ dành, sẽ bắt đầu khám khá các đồ vật bằng cách ném, sờ, kéo, đập chúng và cố lấy chúng đi. Đứa trẻ học về các vật dụng đó, và tìm hiểu xem các vật dụng đó tƣơng tác với nhau nhƣ thế nào, bằng cách khám phá chúng, bằng cách phát triển những ý tƣởng của bản thân em về các đồ vật đó – nói tóm lại tìm hiểu về các đồ vật bằng cách tự khám phá. Nhiều tác giả đã thảo luận về bản chất của khám phá và đã sử dụng những từ nhƣ suy nghĩ quy nạp, suy nghĩ sáng tạo, dạy học tự phát hiện, phƣơng pháp khoa học và những từ tƣơng tự.

Với nhiều ngƣời, nhu cầu tìm hiểu sự cần thiết của khám phá có thể đƣa họ đến với John Dewey. Dewey đƣa ra ý kiến cho rằng khám phá là “sự tìm hiểu một cách chủ động, kiên trì và kỹ lưỡng về một niềm tin hoặc một dạng kiến thức nào đó từ những nền tảng hỗ trợ cho nó và những kết luận gần hơn với ý kiến Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 9 http://www.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Dạy học tích phân khám phá cho học sinh lớp 12" tập trung vào việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực nhằm giúp học sinh lớp 12 hiểu rõ hơn về tích phân, một khái niệm quan trọng trong toán học. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khuyến khích học sinh tự khám phá và phát triển tư duy phản biện thông qua các hoạt động học tập thực tiễn. Bài viết không chỉ cung cấp các phương pháp giảng dạy hiệu quả mà còn chỉ ra những lợi ích của việc học tích phân, như khả năng giải quyết vấn đề và ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp giảng dạy và phát triển tư duy cho học sinh, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ phát triển năng lực tư duy và lập luận toán cho học sinh thcs, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách phát triển tư duy toán học cho học sinh ở cấp trung học cơ sở. Ngoài ra, bài viết Dạy học khám phá chủ đề hình học trực quan lớp 6 theo hướng phát triển năng lực tư duy lập luận toán học cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc áp dụng phương pháp dạy học khám phá trong các môn học khác. Cuối cùng, nếu bạn quan tâm đến việc nâng cao chất lượng giảng dạy, hãy xem qua Luận văn thạc sĩ phương pháp giảng dạy tiếng anh, nơi chia sẻ các phương pháp giảng dạy hiệu quả trong môn tiếng Anh. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về giáo dục và phát triển năng lực học sinh.