phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm có 2 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực trạng DHTH trong DH phân môn vẽ tranh ở trƣờng THCS Tân Tiến, huyện Văn Giang, tỉnh Hƣng Yên. Chƣơng 2: Qui trình DHTH trong DH phân môn vẽ tranh ở trƣờng THCS Tân Tiến, huyện Văn Giang, tỉnh Hƣng Yên và thực nghiệm. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG DẠY HỌC TÍCH HỢP TRONG MÔN VẼ TRANH Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TÂN TIẾN, HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƢNG YÊN 1. Cơ sở lí luận về DHTH trong DH trong vẽ tranh ở bậc THCS 1.
Các khái niệm công cụ của đề tài 1. Môn Mỹ thuật, phân môn vẽ tranh ở trường Trung học cơ sở M n Mỹ thuật ở trƣờng Trung học cơ sở Tên gọi môn học Trƣớc kia, môn MT ở trƣờng THCS Việt Nam có tên gọi là Họa, là Vẽ. Thời đó, môn học này chỉ là môn học thêm trên lớp (đƣợc mọi ngƣời hiểu ngầm là môn phụ). Từ năm 1980 đến nay gọi là môn MT” [33].
Mục tiêu Môn MT trong trƣờng THCS không đào tạo họa sĩ hay những ngƣời chuyên nghiệp về mĩ thuật, nhằm giáo dục thẩm mĩ cho học sinh là chủ yêu; tạo điều kiện cho các em tiếp xúc, làm quen, thƣởng thức nghệ thuật thị giác và từ đó tập tạo ra cái đẹp vào học tập, sinh hoạt trong cuộc sống thƣờng ngày, tạo dựng môi trƣờng thẩm mĩ cho xã hội. Môn MT ở trƣờng THCS nhằm nâng cao hơn năng lực quan sát, khả năng tƣ duy hình tƣợng sáng tạo; tạo điều kiện đẻ cho các em học toota các môn học khác trong chƣơng trình giáo dục phổ thông THCS, đồng thời tạo điều kiện cho một số HS yêu thích và có năng khiếu phát triển trong tƣơng lai. Vị trí Dạy MT ở trƣờng phổ thông là dạy cho học sinh nhận ra cái đẹp, tập tạo ra cái đẹp và vận dụng những hiểu biết của mình về cái đẹp vào học tập, vào sinh hoạt hằng ngày, và cho công việc mai sau - đó chính là giáo dục thẩm mĩ, là một trong những yếu tố cần thiết giúp các em hình thành và phát triển một nhân cách toàn diện để trở thành những con ngƣời của thời đại mới. Vì thế, từ xƣa đến nay, 11 trên thế giới, các trƣờng học đều dạy MT, ngƣời ta coi nó là môn học phổ thông, môn học bắt buộc với tất cả học sinh.
MT là môn học chính thức trong chƣơng trình và kế hoạch dạy học ở THCS. Nó độc lập và bình đẳng với các môn học khác. Giáo dục thẩm mĩ trong nhà trƣờng là nhiệm vụ chủ yếu, là một yêu cầu quan trọng, giúp học sinh cảm nhận đƣợc những điều tốt, những cái đẹp xung quanh mình, tạo điều kiện cho các em đƣợc tiếp xúc, làm quen với cái đẹp, thƣởng thức cái đẹp và hành động theo cái đẹp; từ đó, các em có ý thức và tạo ra đƣợc cái đẹp góp phần tô điểm cho cuộc sống, góp phần tạo dựn môi trƣờng thẩm mĩ tốt cho xã hội. Môn MT chiếm vị trí khá quan trọng trong hoạt động dạy học ở trƣờng THCS.
Đây là môn học có nhiệm vụ giáo dục cho học sinh thị hiếu thẩm mĩ - một trong những yếu tố cần thiết giúp các em hình thành và phát triển một nhân cách toàn diện để trở thành những con ngƣời của thời đại mới. Thông qua đó, năng lực quan sát, khả năng tƣ duy hình tƣợng, tính sáng tạo của các em đƣợc phát triển. Các em biết cảm nhận cái đẹp và hơn thế nữa là tạo ra cái đẹp không chỉ cho bản thân mà còn cho mọi ngƣời xung quanh. Vai trò MT là một môn học mà hầu hết các em học sinh rất hứng thú, say mê, đặc biệt là với các em có một chút năng khiếu hội họa.
Môn MT ở trƣờng THCS có khả năng liên kết, tích hợp với các môn học khác nhƣ Lịch sử, Địa lí, Ngữ văn, Âm nhạc, Giáo dục công dân. tạo cho nhận thức của học sinh phong phú và sâu sắc hơn trong tiếp thu bài học. Ngoài ra, môn MT còn có tác dụng bổ trợ cho các môn học khác, ví dụ: nhƣ nôn Tiếng Việt, môn Toán, môn Thể dục. Nhƣ vậy, có thể nói rằng, Nhà trƣờng là môi trƣờng giáo dục thẩm mĩ có hiệu quả nhất.
Đính hƣớng thẩm mĩ trong nhà trƣờng có tính chất cơ bản, chính thống và có tính giáo dục rõ nét. 12 Nhiệm vụ Giáo dục thẩm mĩ cho HS thông qua ngôn ngữ tạo hình; tạo điều kiện để cho HS tiếp xúc với văn hóa thị giác, làm quen với cái đẹp về bố cục, hình tƣợng, đƣờng nét, màu sắc. và sự đa dạng, phong phú về các cách thể hiện. - Cung cấp cho HS một số kiến thức cơ bản, phổ thông về mĩ thuật, giúp các em có thể giải quyết các mục tiêu của bài học trong chƣơng trình theo nhận thức và cảm nhận riêng của bản thân.
- Giúp học sinh nhận thức sâu sắc hơn vẻ đẹp và giá trị nghệ thuật của các công trình, tác phẩm mĩ thuật tông qua các bài học trong phân môn TTMT. HS hiểu biết sơ lƣợc về lịch sử mĩ thuật Việt Nam và lịch sử mĩ thuật thế giới qua một số tác phẩm tiêu biểu. Từ đó HS ý thức hơn trong việc tiếp thu và kế thừa bản sắc văn hóa đặc sắc của dân tộc cũng nhƣ tinh hoa sáng tạo trong nghệ thuật của các nền văn hóa thế giới. - Giúp HS phát huy năng lực quan sát, sáng tạo trong học tập.
Môn MT có tính liên thông tích hợp đƣợc nhiều với các môn học khác. Do đó, học MT cũng tạo điều kiện cho HS suy nghĩ, liên tƣởng, sáng tạo để có nhiều cách thể hiện khác nhau cho học sinh các môn học khác nhau trong chƣơng trình THCS. - Về mục tiêu hƣớng nghiệp, tuy môn MT ở trƣờng THCS tạo điều kiện cho một số học yêu thích nghệ thuật, có năng lực sáng tạo, phấn đấu để định hƣớng nghề nghiệp trong tƣơng lai. Các em có thể tiếp tục học tập, nâng cao hơn nữa năng lực thông qua các hình thức học tập khác nhau để có thể vào học các ngành năng khiếu nhƣ MT, Kiến trúc, Thiết kế thời trang.
[6] Nội dung chương trình Chƣơng trình môn MT theonguyên tắc đồng tâm, xoắn ốc kết hợp với tuyến tính, gồm 4 phân môn: Vẽ theo mẫu, Vẽ trang trí, Vẽ tranh, Thƣờng thức MT. Bài học trong các phân môn có tính thực hành đƣợc xây dựng có tính cơ bản, đơn giản, phổ thông theo đặc thù môn học và gắn với thực tiễn cuộc sống để học sinh dễ tiếp thu. Yêu cầu của các phân môn là: 13 Vẽ theo mâu: Hiểu khái niệm và phƣơng pháp, các bƣớc tiến hành bài vẽ ở mức cơ bản, phổ thông. Rèn luyện óc quan sát, khả năng phân tích nhận xét để vẽ hình; gợi đậm nhạt một màu hoặc nhiều màu.
Vẽ theo mẫu tạo cơ sở thuận lợi cho Vẽ trang trí, vẽ tranh. Vẽ trang trí: Hiểu khái niệm và đặc điểm, các bƣớc tiến hành bài vẽ trang trí cơ bản và ứng dụng ở mức độ đơn giản. Bồi dƣỡng năng lực thẩm mĩ, sáng tạo thông qua ngôn ngữ tạo hình nhƣ bố cục, đƣờng nét, hình mảng và màu sắc để tạo sản phẩm trang trí. Vẽ tranh: Hiểu các lựa chọn nội dung, hình ảnh, các bƣớc tiến hành bài vẽ.
Phát triển khả năng tƣ duy tƣởng tƣợng, giải quyết tƣơng quan hình mảng, đậm nhạt; phát huy tính sáng tạo và cách nhìn, cách cảm, cách thể hiện riêng trong bài vẽ tranh. Thƣờng thức MT: Giáo dục thẩm mĩ thông qua các công trình, sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật tiêu biểu. Nâng cao năng lực phân tích tác phẩm thông qua biểu hiện của ngôn ngữ tạo hình, trau đòi thêm kiến thức để vận dụng vào các bài của môn MT. Cấu trúc chương trình Là môn học đƣợc cấu tạo chính thức trong chƣơng trình giáo dục phổ thông, bình đẳng với môn học khác.
Chƣơng trình môn MT có cấu trúc nhƣ sau: Với các môn học có nhiều yếu tố thực hành nhƣ Vẽ theo mâu, Vẽ trang trí, Vẽ tranh đều có cấu trúc đồng tâm có phát triển - lƣợng kiến thức, kĩ năng đƣợc nâng dần từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Lƣợng kiến thức kĩ năng cũng tuân thủ theo cấu trúc trên ở mỗi phân môn. Đây cũng là hình thức giúp học sinh dễ dàng hơn trong quá trình học tập. Nhƣợc điểm là kiến thức, kĩ năng của các phân môn đôi khi bị tách bạch, hạn chế sự tƣơng hỗ, chia sẻ lẫn nhau trong chƣơng trình.
Ở từng phân môn, hệ thống bài học đƣợc thiết kế theo trục dọc từ thấp đến cao với lƣợng kiến thức, kĩ năng tƣơng ứng. Song ở mỗi lớp học, cấp học 14 hệ thống bài đƣợc cấu trúc theo trục ngang, đan xen, khai thác và hỗ trợ nhau. Cách vận hành cấu trục này càng tạ nên tính khoa học của Mt và đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của HS. Tuy vậy cách sắp xếp này cũng tạo nên những bất cập trong tiếp nhận những kiến thức, kĩ năng của HS vì quỹ thời gian hạn chế, ít bộc lộ đƣợc sáng tạo.
Ở mỗi phân môn thực hành đều đƣợc xác định mục tiêu ( hoặc mức độ cần đạt), mục đích, yêu cầu và những nội dung cơ bản giúp cho việc xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng chung của phân môn, mỗi chủ đề đƣợc thuận lợi. Chuẩn bị kiễn thức, kĩ năng là yêu cầu cần phải đạt đƣợc cho mỗi nội dung học tập. Phân m n Vẽ tranh Cùng với phân môn vẽ trang trí, vẽ theo mẫu và thƣờng thức mỹ thuật thì phân môn vẽ trang là những phân môn chính trong nội dung giáo dục mỹ thuật ở bậc THCS. Nội dung của phân môn vẽ tranh ở bậc học này chủ yếu là vận dụng các kiến thức về đƣờng nét, màu sắc, bố cục ở các lớp trƣớc để vẽ theo đề tài nhƣ tĩnh vật, phong cảnh, lễ hội, ngày nhà giáo, lực lƣợng vũ trang, an toàn giao thông,.
Chính điều này là cơ sở cho việc tổ chức dạy học tích hợp ở phân môn này có hiệu quả. Ví dụ nhƣ khi dạy về môn Địa lý có thể tích hợp với phân môn vẽ theo tranh trong chủ đề liên quan đến đặc điểm, điều kiện tự nhiên của vùng miền. Hay trong môn Lịch sử khi tích hợp với phân môn vẽ tranh sẽ giúp học sinh ghi nhớ, phản ánh sự kiện lịch sử qua trí tƣởng tƣợng, sự liên tƣởng của bản thân, giúp cho chất lƣợng, sự hấp dẫn của môn học đƣợc cải thiện đáng kể.