mở đầu: văn học dân gian thường bắt đầu câu chuyện theo trình tự tự nhiên, nhân quả. Văn học hiện đại có thể bắt đầu từ bất cứ điểm nhìn nào theo ý đồ tác giả. Sau khi xác định điểm nhìn, tức xác định chủ thể kể chuyện thì văn bản diễn ra theo ngôi thứ thích hợp (anh ấy, lão ta, hắn… ) với giọng điệu thân 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mật hay nghiêm trang tuỳ quan hệ của người kể với nhân vật. Trong thơ trữ tình, điểm nhìn từ bên trong và còn nương theo nguyên tắc âm nhạc nữa.
Hình thức kết cấu văn học rất đa dạng và cũng phụ thuộc vào thể loại, riêng đối với thơ luật thì còn phải theo kết cấu định sẵn ví dụ thơ Đường luật, lục bát, song thất lục bát.v… Sự tích cực chủ động sáng tạo của nhà văn làm phong phú nhiều kiểu kết cấu thú vị. Thi pháp chi tiết nghệ thuật Mỗi hình tượng nghệ thuật được thêu dệt nên bằng nhiều chi tiết lớn nhỏ khác nhau. Những đối tượng miêu tả như nhân vật, cảnh vật, môi trường… tạo nên bằng hình dáng, đường nét, âm thanh, thuộc tính chọn lọc mà tác giả cho là cần thiết nhất, quan trọng nhất, loại bỏ những cái rườm rà không cần thiết. Chi tiết là những bộ phận nhỏ, tự nó đứng riêng thì không có ý nghĩa, nhưng khi kết lại nó biểu hiện một ý nghĩa của tác phẩm.
Chi tiết chính là điểm nhìn, thể hiện quan niệm nghệ thuật và tâm hồn tác giả đối với đối tượng đó. Thi pháp học hiện đại khám phá tính quan niệm qua hệ thống các chi tiết nghệ thuật của thế giới nghệ thuật. Quan sát nhiều chi tiết cùng loại hoặc lặp đi lặp lại, ta thấy nó có một lớp ý nghĩa nào đó – bởi tác giả quan tâm và rung cảm với nó. Các chi tiết nghệ thuật bao gồm các loại màu sắc, âm thanh, đồ vật, đường nét, chất liệu…tạo thành các thế giới nghệ thuật khác nhau về chất.
Chi tiết nghệ thuật biểu hiện phẩm chất thẩm mĩ của thế giới nghệ thuật và cũng biểu hiện niềm rung cảm của tác giả. Thi pháp lời văn nghệ thuật Lời văn nghệ thuật là thứ ngôn ngữ đặc biệt, được chưng cất hiện thực ngôn ngữ toàn dân. Lời văn nghệ thuật khác với lời nói bình thường (phi nghệ thuật). Lời văn nghệ thuật có tính hình tượng, mỗi lời đều là lời sáng tạo của nhà văn nhằm hiện thực ý muốn của mình.
Lời văn nghệ thuật có tính tổ chức cao, được lựa chọn theo ý thích, thói quen và khả năng của nhà văn, từ âm thanh, từ ngữ, nhịp điệu, đoạn và cả bài. Các phương diện của lời văn nghệ thuật là ngữ âm, từ vựng, cú pháp, biện pháp tu từ. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đặc điểm của lờ văn nghệ thuật nhà văn có một lời văn riêng. Đó là thi pháp của tác giả, nghĩa là lời văn đã tạo ra một hệ thống lời văn độc đáo.
Truyền thống thi pháp cổ khi bình giảng họ chỉ đi tìm những “nhãn tự, thần cú” – có vẻ ngẫu nhiên may mắn tác giả viết được câu hay, từ đắt mà làm cho bài thơ, văn hay. Đến thi pháp học hiện đại lại đi tìm quan niệm của lối sử dụng lời văn ấy – vì sao tác giả sáng tạo như thế? Khi phân tích ngôn ngữ thơ, cần lưu ý nhạc điệu, các phương tiện và biện pháp tu từ, cách dùng từ… Mỗi thể thơ đều có những quy định riêng về bút pháp thể hiện, ví dụ trong thơ Đường luật đặc biệt là thơ thất ngôn tứ tuyệt, do đặc trưng là dung lượng ngắn nên ngôn ngữ cực kì hàm súc, và thường có hiện tượng “nhãn tự” (con mắt thơ- từ ngữ hay, “đắt”). Thi pháp văn học trung đại Văn học trung đại là một giai đoạn lớn trong lịch sử văn học nhân loại và dân tộc. Văn học trung đại là một giai đoạn lớn trong lịch sử văn học nhân loại và dân tộc.
Văn học trung đại Việt Nam tính từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX là giai đoạn hình thành và phát triển rực rỡ nhất của văn học Việt Nam, là giai đoạn hình thành các truyền thống lớn về tưởng và nghệ thuật. Văn học trung đại Việt Nam chiếm một phần không nhỏ trong chương trình phổ thông. Việc dạy văn học trung đại sao cho có hiệu quả đang là mục tiêu phấn đấu của giáo viên các cấp. Để hiểu, truyền thụ cái hay, cái đẹp của một tác phẩm văn học trung đại là một việc không mấy dễ dàng.
Để khám phá giá trị của một tác phẩm văn học trung đại đòi hỏi giáo viên và học sinh phải có một kiến thức nền về môi trường văn hoá trung đại, tư tưởng ý thức hệ chính thống thời trung đại, điển cố, điển tích, thể loại văn học v. Nói như vậy, có nghĩa là để hiểu được văn học trung đại chúng ta phải tiếp cận từ thi pháp văn học trung đại. Văn học trung đại có thi pháp riêng của nó. Nắm vững thi pháp văn học trung đại không chỉ có ý nghĩa giúp ta chiếm lĩnh sâu thêm các tác phẩm văn học trung đại mà còn gián tiếp giúp ta làm sáng tỏ đặc điểm văn học cổ đại và hiện đại trong thế đối sánh.
Đặc trưng của thi pháp văn học trung đại là: 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tính ước lệ Văn học nghệ thuật không hoàn toàn là đời sống thực tại, không sao chép y nguyên hiện thực. Tuy trong văn học mọi thời kì đều sử dụng ước lệ nhưng chỉ có thời kì trung đại ước lệ mới được sử dụng một cách phổ biến, phức tạp và nghiêm ngặt nên được coi là một đặc trưng về mặt thi pháp. Ước lệ là một quy ước của cộng đồng người.
Họ đặt ra những biểu tượng riêng để thay thế cho các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống thực. Trong nghệ thuật đó là quy ước chung của nghệ sĩ và độc giả. Đó là khuynh hướng lí tưởng hoá để tạo ra một thế giới nghệ thuật riêng khác với đời sống thực tại. Cái có thật đi vào nghệ thuật được cách điệu hoá cao độ.
Trong sự cách điệu hoá đó, thiên nhiên chính là chuẩn mực, là khuôn vàng thước ngọc để đánh giá vẻ đẹp. Vì vậy, các nhà văn đều lấy thiên nhiên để so sánh với con người để tôn vinh vẻ đẹp. Con người đẹp trong văn chương phải là tóc mây, mày liễu, mặt hoa, gót sen, cử chỉ, dáng điệu như nghệ sĩ trên sân khấu. Vì vậy, tả mỹ nhân thì làn thu thuỷ, nét xuân sơn, tóc như mây, da như tuyết… và người đẹp phải đẹp đến nỗi nghiêng nước nghiêng thành hay chim sa cá lặn, thậm chí Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình.
Cây cối trong văn chương cũng thế, phải sang trọng như mai, lan, cúc, trúc, hay liễu, tùng, bách, thông… bởi chúng là những biểu tượng để chỉ những phẩm chất, cốt cách, khí tiết của người quân tử, của bậc trượng phu; nói đến người thì ngư, tiều, canh, mục; con vật phổ biến là yến oanh, loan phượng, uyên ương, cò hạc. Nói chung văn chương thời ấy đa số ước lệ, ít tả thực. Nếu có tả thực thì chỉ dùng cho những nhân vật phàm tục, phản diện, phi mĩ học như Sở Khanh, Tú Bà. Tính quy phạm Người trung đại quan niệm thời gian là tuần hoàn, đi hết một vòng rồi lại quay trở về gốc.
Vì thế, người ta hết sức coi trọng quá khứ, coi trọng sự khởi đầu, coi trọng người già, người lớp trước (cổ nhân, tiền bối, tiên sinh). Xã hội hoàng kim phải là thời Nghiêu Thuấn, chuẩn mực cái đẹp và chân lý cũng nằm ở quá khứ. Vì thế, văn học trung đại đầy rẫy điển cố, điển tích. Mẫu mực của văn 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chương là các tác giả đời trước như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị.
Đó là tinh thần sùng cổ, sùng thượng, sùng ngoại, suy tôn Thánh hiền, do vậy tạo tính quy phạm trong văn học. Việc sử dụng những điển tích trên cũng nhằm mục đích lấy xưa để nói nay, dùng việc cũ, người cũ để nói việc mới, chuyện nay. Khi sáng tác, các tác giả cũng vay mượn đề tài, cốt truyện, môtip, có khi cải biên cốt truyện để tạo nên một tác phẩm mới. Đây là sự tuân theo những kiểu mẫu, khuôn mẫu sẵn có đó thành công thức.
Tính phi ngã Thời phong kiến ý thức cá nhân chưa phát triển. Con người luôn được đặt trong quan hệ ràng buộc với cộng đồng, họ hàng, tầng lớp. Chính vì thế, hôn nhân không phải là chuyện riêng tư, tự nguyện của hai người mà là vấn đề môn đăng hộ đối của hai gia đình, dòng họ. Người có văn hóa, giáo dục là người biết thu nhỏ, hạ thấp “cái tôi” cá nhân của mình lại.
Vì thế, trong văn học, yếu tố cá nhân cũng bị dấu đi, khiến văn chương có tính phi ngã không có dấu ấn “cái tôi” cá nhân. Nhà văn hiếm khi xưng “tôi”, xưng “ta”, không bộc lộ trực tiếp cảm xúc mà dùng lối gián tiếp: tả cảnh ngụ tình. Nói chung, họ thường sử dụng các công thức có sẵn để sáng tác. Tả anh hùng thì phải râu hùm, hàm én, vai năm tấc rộng, thân mười thước cao, tả mĩ nhân thì làn thu thuỷ nét xuân sơn, hoa ghen, liễu hờn.
Thiên nhiên trong thơ văn trung đại Trong văn chương xưa, thiên nhiên là yếu tố rất phổ biến và đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc biểu lộ tình cảm, ý chí của con người. Người xưa coi thiên nhiên là một người bạn để họ tâm tình, thổ lộ. Thiên nhiên chưa được nhìn nhận như là một khách thể, một hiện thực khách quan của cuộc sống có vẻ đẹp, giá trị riêng. Thiên nhiên thường chỉ là công cụ, là tư liệu, là cái cớ để nhà văn ngụ ý giáo huấn: “Xuân qua trăm hoa rụng, Xuân tới trăm hoa tươi.
Trước mắt việc đi mãi, Trên đầu, già đến rồi. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết, Đêm qua sân trước một nhành mai.” (Mãn Giác) Cành mai nở trước sân trong đêm cuối xuân vốn là hình ảnh rất đẹp về đường nét, màu sắc, đặc biệt là bối cảnh. Nhưng có thể đó chỉ là một hình ảnh ước lệ, một chi tiết hư cấu, một bông hoa nở từ trong tâm hồn thiền sư. Vì thế, bông hoa ấy không được miêu tả hình xác thực mà chỉ xuất hiện như một công cụ chuyển tải ý tưởng của nhà thơ: sự sống là bất diệt.
Tuổi già, bệnh tật của con người cũng giống như thời khắc xuân tàn của thiên nhiên không huỷ diệt được sự sống.