Chương 1: Tổng quan nghiên cứu vấn đề Chương 2: Cơ sở khoa học của vấn đề dạy học tác phẩm của Lỗ Tấn trong nhà trường phổ thông Việt Nam theo hướng tiếp cận đồng bộ Chương 3: Các nguyên tắc, biện pháp dạy học tác phẩm của Lỗ Tấn trong nhà trường phổ thông Việt Nam theo hướng tiếp cận đồng bộ. Chương 4: Thực nghiệm sư phạm. 8 NỘI DUNG Chƣơng 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan nghiên cứu về lí thuyết hƣớng tiếp cận đồng bộ Từ năm cuối của thập kỉ 80, Harald Weinrich ở trường Đại học Beclin đã đề cập: “Cần có một lịch sử văn học của người đọc văn chương”.
Lịch sử văn học lâu nay chỉ hướng về tác giả mà chưa chú ý đến người đọc, cũng như trong nhà trường, chúng ta chỉ chú ý đến thầy, chưa chú ý đến học sinh. Hiệu quả một giờ Văn là chất lượng, hiệu quả thể hiện ở học sinh. Như vậy, nếu cần có một lịch sử của tiếp nhận văn chương (historic littérate) thì cũng cần có một lịch sử của tiếp nhận văn chương trong nhà trường. Như vậy thì giờ Văn phải coi học sinh không chỉ là độc giả mà còn là chủ thể tiếp nhận.
Dưới sự tác động thẩm mĩ của tác phẩm, “học sinh tiếp nối và tham gia vào mục đích sáng tạo của nhà văn, hiện thực hóa ý đồ nghệ thuật của nhà văn qua sự đồng điệu và nhân lên cảm xúc qua sự lay thức tâm hồn là hiểu biết mới mẻ về cuộc đời” (Nguyễn Trọng Hoàn). Học sinh không chỉ là người tiếp nhận văn chương trong sách giáo khoa mà còn cả văn chương ngoài đời để cho tâm hồn và trí tuệ càng thêm phong phú. Nhiều thập kỉ qua, ở Việt Nam, việc tiếp cận, phân tích tác phẩm văn chương trong nhà trường đã chịu ảnh hưởng trực tiếp và khá mạnh mẽ của sự biến đổi khuynh hướng và các phương pháp nghiên cứu, phê bình văn học. Khuynh hướng tiếp cận tác phẩm văn chương luôn biến đổi dưới ảnh hưởng của các phương pháp lịch sử, xã hội, văn bản học, phê bình mới hoặc thuyết giao dịch đáp ứng,… Con đường tiếp cận, tìm hiểu tác phẩm văn chương đi theo những chiều hướng đúng sai khác nhau: chú trọng hoàn cảnh phát sinh hay yếu tố tác phẩm; khám phá cấu trúc văn bản một cách khoa học hay biệt lập văn bản khỏi hoàn cảnh phát sinh, hướng vào bạn đọc không khép kín 9 trong văn bản hay cường điệu cảm thụ chủ quan của người đọc đi đến thoát li văn bản.
Người ta đã phê phán từ lâu khuynh hướng tiếp cận “phi văn bản”, “ngoài văn bản”, “ trên văn bản”, hoặc khuynh hướng phân tích không địa chỉ… Một sự cường điệu hay máy móc trong phương pháp tiếp cận tác phẩm văn chương nhất định sẽ đưa đến hậu quả thiếu khách quan và phản khoa học. Đầu thập kỉ 60 của thế kỉ XX, với những thành tựu của lí thuyết tiếp cận, của tâm lí học sáng tạo và cảm thụ nghệ thuật, khuynh hướng phân tích văn chương theo lí thuyết đáp ứng (responses centred approach) được đặc biệt đề cao. Sự vận dụng hài hoà các phương pháp: lịch sử phát sinh - cấu trúc văn bản và lịch sử chức năng khi tiếp cận tác phẩm văn chương, được xây dựng từ nhận thức đúng đắn về nguồn gốc của văn học, về bản chất cấu trúc và sinh mệnh của tác phẩm văn chương và đó cũng là sự vận động nhuần nhuyễn những quan điểm khách quan và khoa học về sáng tác và tiếp nhận văn chương vào việc tìm hiểu một tác phẩm văn chương cụ thể. Khuynh hướng nghiên cứu tiếp cận lịch sử phát sinh ra đời sớm nhất và hiện nay vẫn giữ vai trò cơ bản.
Khuynh hướng nghiên cứu này chủ trương nghiên cứu văn học cũng như các trường phái nhà văn, tác phẩm từ nguồn gốc trong đời sống xã hội. Nó chủ trương giải thích sự phát triển của văn học, sự đấu tranh giữa các trào lưu, sự kế thừa có đổi mới của từng giai đoạn văn học từ những nguồn cội nguồn lịch sử xã hội. Phương pháp nghiên cứu khuynh hướng này cũng ngày càng được hoàn thiện dần. Chân lý trong văn học chỉ thống nhất chứ không đồng nhất với chân lý đời sống, hơn nữa trong những tiền đề phát sinh của văn học, vai trò cá tính, sáng tạo của văn nhà văn rất lớn, và đặc biệt là những truyền thống văn học do quá khứ để lại cũng gây ảnh hưởng không nhỏ.
Những bước phát sinh và phát triển đích thực nào của văn học cũng phải thông qua sự sáng tạo của những tài năng lớn, thậm chí là của thiên tài, nhà thiên tài bao giờ cũng là 10 sự kết tinh của nhiều thế hệ, chứ không phải chỉ trong thời đại họ sống. Thời đại với những vấn đề bức bách mới mẻ đã trực tiếp kích thích sự đột phá của thiên tài. Nhưng cho dù là thiên tài, họ cũng chỉ sống với một số khía cạnh cơ bản của vấn đề thời đại mà thôi. Xét thuần túy về mặt phương pháp mà nói, văn học phản ánh xã hội, nên phải từ xã hội để phân tích văn học là đúng.
Nhưng chỉ chuyên dò tìm những cái tương đương của văn học đối với xã hội thì phiến diện, cần phải vươn lên giải thích cho được những chỗ văn học khác xã hội. Nhà văn là người chuyên đi thiết kế lý tưởng cho giai cấp, cho thời đại nên rất có thể tác phẩm của họ biểu hiện những ước mơ, những điều kỳ lạ không thấy có trong thời đại họ đang sống. Vấn đề là ở chỗ, văn học biểu hiện những tưởng tượng, ước mơ khác nhau, người nghiên cứu phải giải thích cho được điều đó. Chỗ thiếu sót của lối đi tìm cái “tương đương xã hội học” cũng chính là nói đến những bước tiến về sau trong khuynh hướng nghiên cứu lịch sử phát sinh.
Nhà văn cần phải tuân thủ “Nguyên tắc lịch sử” và “Nguyên tắc lôgic”, tức là người viết phải nắm bắt được toàn diện đến mức tối đa những hiện tượng của lịch sử xã hội, nguyên nhân và trình tự của nó và được phản ánh theo tư duy lôgic. Ăngghen nói “Lịch sử thường diễn biến quanh co, nếu bất cứ đâu cũng phải chạy theo nó thì tất yếu không những phải chú ý đến nhiều tư liệu không quan trọng mà còn làm gián đoạn tiến trình tư duy”. Quan điểm tiếp cận văn bản giúp người đọc, người nghiên cứu không thoát li văn bản. Văn bản là thông điệp, là đề án nhà văn gửi tới bạn đọc.
Đặc trưng cơ bản của văn bản nghệ thuật là thông tin thẩm mĩ. Nhà văn gửi đến cuộc đời niềm xúc động mãnh liệt nhất, những rung động tha thiết nhất về cuộc sống và con người. Đây là điểm mấu chốt phân biệt phương pháp tiếp cận văn học đích thực với lối phân tích xã hội học tầm thường, biến tác phẩm văn chương thành một đề cương giáo huấn, một sơ đồ xã hội học,… .Tuy nhiên ở đây cũng cần ngăn ngừa một khuynh hướng cực đoan chỉ nhìn nhận 11 giá trị của văn bản nghệ thuật ở phương diện thẩm mĩ. Tác phẩm văn chương chứa đựng trong nó muôn màu muôn vẻ của đời sống xã hội, con người mà bạn đọc ngày nay không thể bỏ qua, không thể không biết đến, chính những yếu tố văn hoá của văn bản lại càng làm nổi rõ hơn yếu tố thẩm mĩ của văn bản.
Thiếu vốn văn hoá cần thiết thì việc cảm thụ văn thơ cũng dễ bị thiếu sâu sắc. Văn chương vốn là cuốn sách bách khoa toàn thư về cuộc sống. Marx đã từng ghi nhận tính chân thực sâu sắc của văn chương. Gorky nói nhờ văn chương mà hiểu cuộc đời và con người hơn.
Mặt khác cũng cần thấy rằng, đa số học sinh phổ thông cần được trang bị vốn am hiểu về văn chương và rộng hơn là văn hoá để đi vào đời sống sau này. Nói đến tác phẩm văn chương là nói đến một văn bản trong chỉnh thể. Tác phẩm văn chương được cấu tạo bằng ngôn ngữ nghệ thuật, xây dựng lên một thế giới nghệ thuật riêng được kết cấu một cách chặt chẽ trong những quan hệ giữa nội dung và hình thức, giữa bộ phận và tổng thể, giữa yếu tố hữu hình và vô hình, giữa phản ánh và biểu hiện, giữa văn bản và tiền văn bản,… Một trong những con đường đi vào tác phẩm văn chương là nhận diện được loại thể. Tiếc rằng do chưa phân biệt đầy đủ đặc trưng thi pháp của loại thể nên việc cắt nghĩa tác phẩm văn chương ở nhà trường đã có nhưng hạn chế kéo dài nhiều năm qua chưa khắc phục được.
Phương pháp thiên về văn bản đã làm mối quan hệ giữa học sinh với tác phẩm bị giãn cách, giáo viên chỉ quan tâm đến văn bản mà không tìm hiểu học sinh có phản ứng như thế nào về tác phẩm, dẫn đến sự xa cách giữa người giảng văn và người học văn. Lý luận văn học những thập kỉ gần đây đã nhấn mạnh thêm hướng lịch sử chức năng trong tiếp cận tác phẩm văn chương. Nhiều thập kỉ qua, tác phẩm văn chương bị coi như một hiện tượng tĩnh, nay được nhìn nhận trong trạng thái động, trong sự vận động đến với bạn đọc. Tác phẩm văn chương là một hệ thống mở, vòng đời tác phẩm văn chương cũng được nhận diện lại 12 trong nhiều quan hệ hữu cơ biện chứng hơn.
Tác phẩm văn chương chỉ thực sự đi trọn vòng đời trong mối quan hệ với bạn đọc để trở về với cuộc sống vốn là xuất phát điểm. Vai trò của bạn đọc như một yếu tố quyết định sinh mệnh của mỗi tác phẩm. Lý luận về tác phẩm chức năng của tác phẩm làm cho việc phân tích, giảng dạy trong nhà trường có hiệu quả hơn. “Trung tâm của quá trình không phải là tác phẩm văn học mà là tâm trí học sinh khi gặp gỡ cuốn sách.
Công cuộc đổi mới phương pháp giảng văn ở trung học đã diễn ra hơn 10 năm nay theo hướng coi học sinh là bạn đọc sáng tạo cũng như sự vận dụng kịp thời những thành tựu về lý thuyết tiếp nhận, tư tưởng dạy học hiện đại. Vấn đề người học sinh luôn luôn được đặt ra trong quá trình dạy học, nhất là với những khuynh hướng tiến bộ. Học sinh bao giờ cũng là đối tượng cần được quan tâm nhằm tạo được những kết quả mong muốn. Ngay trước nhu cầu đào tạo thích ứng với bước phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, nền giáo dục bảo thủ vẫn phải thừa nhận thực thể học sinh như là một đối tượng không thể không quan tâm.