Chương 1. Cơ sở lý luận của dạy học ở lớp 1 theo hƣớng kết nối với chƣơng trình giáo dục mầm non (Mẫu giáo 5-6 tuổi) Chương 2. Cơ sở thực tiễn của dạy học ở lớp 1 theo hƣớng kết nối với chƣơng trình giáo dục mầm non (Mẫu giáo 5-6 tuổi) Chương 3. Tổ chức dạy học chủ đề Đếm, Đọc, Viết.
So sánh các số trong phạm vi 100 và các chủ đề về Tự nhiên ở lớp 1 theo hƣớng kết nối với chƣơng trình giáo dục mầm non (Mẫu giáo 5-6 tuổi) Chương 4. Kết quả thực nghiệm dạy học ở lớp 1 theo hƣớng kết nối với chƣơng trình giáo dục mầm non (Mẫu giáo 5-6 tuổi) 12 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA DẠY HỌC Ở LỚP 1 THEO HƢỚNG KẾT NỐI VỚI CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM NON (MG 5-6 TUỔI) 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về định hướng dạy học theo hướng kết nối Dạy học đã đƣợc quan tâm nghiên cứu từ rất lâu.
Vấn đề đƣợc quan tâm nghiên cứu không chỉ là bản chất, mục tiêu, nội dung dạy học mà quan trọng là cách thức tổ chức dạy học theo một định hƣớng nào đó. Từ thời cổ đại, Khổng Tử (551 - 479 TCN) đƣa ra quan điểm về dạy học là: “dùng cách gợi mở, đi từ gần tới xa, từ đơn giản đến phức tạp, nhƣng vẫn đòi hỏi ngƣời học phải tích cực suy nghĩ…, đòi hỏi học trò phải tập luyện, phải hình thành nề nếp, thói quen học tập” và “học không biết chán, dạy không biết mỏi”. Quan điểm của ông là muốn mang lại hiệu quả dạy học phải quan tâm đầy đủ đến phƣơng pháp, cách thức tổ chức dạy học để ngƣời học đƣợc học liên tục, không biết chán. Từ sau thế kỷ XIV, dạy học đƣợc nhiều nhà giáo dục quan tâm, nổi bật nhất trong thời kỳ đó là: Cômenki (1592 - 1670).
Theo ông, quá trình dạy học, để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật, hiện tƣợng do học sinh tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên dùng uy quyền bắt buộc, gò ép học sinh chấp nhận bất kì một điều gì và ông đã nêu ra một số nguyên tắc dạy học có giá trị rất lớn đó là: nguyên tắc trực quan; nguyên tắc phát huy tính tự giác tích cực của học sinh; nguyên tắc hệ thống và liên tục; nguyên tắc củng cố kiến thức; nguyên tắc giảng dạy theo khả năng tiếp thu của học sinh (vừa sức); dạy học phải thiết thực; dạy học theo nguyên tắc cá biệt… Nhà giáo dục lớn của Pháp, Jean - Jacques Rousseau (1712 - 1778) lại quan niệm rằng: “Tật xấu của những nhà giáo dục là luôn muốn dạy cho trẻ 13 tất cả những gì mà tự nó có thể học đƣợc… Hỡi những nhà giáo dục hăng say, các bạn hãy giản dị, kín đáo, ít nói… chỉ nên để cho học trò của các bạn học bằng kinh nghiệm mà thôi” [27]. Điều này cho thấy, ngƣời dạy cần thay đổi mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp dạy học cho phù hợp với đối tƣợng học sinh, dạy trên cơ sở những điều học sinh đã có “kinh nghiệm”. Nhƣ vậy, quan điểm của các nhà giáo dục từ cổ đại đến cận đại về dạy học đều đã đề cập đến dạy học cần quan tâm những gì ngƣời học đã có để phát huy, tránh sự nhàm chán. Đó chính là những tƣ tƣởng về dạy học kết nối.
Nhà tâm lí học ngƣời Nga, Lev Semyonovich Vƣgotsky (1896 - 1934), trong các nghiên cứu của mình ông đã chú ý đến việc trong dạy học, trẻ em cần đƣợc hƣớng tới giải quyết những vấn đề chúng gặp phải vƣợt lên trên mức độ phát triển của chúng hiện tại, hƣớng tới mức độ phát triển cao hơn. Ông gọi là “vùng phát triển gần” (the Zone of Proximal Development) hay còn đƣợc gọi là “Vùng cận phát triển”. “Vùng cận phát triển” chính là khái niệm chỉ khu vực kinh nghiệm của cá nhân nằm giữa trình độ phát triển hiện tại và vùng phát triển tiềm tàng (ở dạng tiềm năng) đƣợc đặc trƣng bằng năng lực giải quyết vấn đề có sự hỗ trợ từ bên ngoài có đặc trƣng là năng lực giải quyết vấn đề độc lập [23]. Năm 1938, John Dewey (1859 - 1952), đã phân biệt giữa nền giáo dục truyền thống và nền giáo dục tiến bộ, đề cập đến những nhƣợc điểm cơ bản của cả hai nền giáo dục.
Ông nhấn mạnh rằng: “Cả hai nền giáo dục đó đều chƣa đáp ứng đƣợc sự đòi hỏi, mỗi nền giáo dục đều có những sai lầm về mặt giáo dục. Bởi vì, cả hai đều không vận dụng những nguyên tắc của nhận thức dựa trên kinh nghiệm đƣợc phát triển thấu đáo” [76]. Trong công trình nghiên cứu này, Dewey đã làm sáng tỏ ý nghĩa của kinh nghiệm cá nhân và mối quan hệ giữa kinh nghiệm cá nhân ngƣời học với hoạt động dạy học. Năm 1946, Zadek Kurt Lewin (1890 - 1947), trong các nghiên cứu của minh, ông đã rất quan tâm đến sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành trong 14 học tập.
Qua nghiên cứu, Lewin cho ta thấy: việc học tập đạt hiệu quả tối đa khi có một sự xung đột căng thẳng biện chứng giữa kinh nghiệm cá nhân với việc phân tích giải quyết nhiệm vụ học tập. Theo ông, cuộc xung đột này có vai trò rất quan trọng làm thay đổi và giúp ngƣời học tiến bộ hơn. Công trình nghiên cứu có liên quan đến học tập dựa vào kinh nghiệm của Lewin là “T - nhóm và phƣơng pháp phòng thí nghiệm”. Lewin đã khẳng định kinh nghiệm chủ quan của cá nhân là một thành phần quan trọng của học tập.
Ông đã phát triển chu kỳ học tập nhƣ “một quá trình liên tục của hành động và đánh giá hệ quả của hành động đó” [67]. Trong công trình nghiên cứu của mình, Kurt Lewin đã đƣa ra mô hình học tập dựa vào kinh nghiệm gồm 4 giai đoạn: ngƣời học suy nghĩ về tình huống; lập kế hoạch giải quyết tình huống; tiến hành kế hoạch; quan sát các kết quả đạt đƣợc. Jean Piaget (1896 - 1980) trong các nghiên cứu về bản chất và quá trình phát triển của trí thông minh đã cho thấy: quá trình phát triển của trí thông minh có liên quan đến tuổi của mỗi ngƣời, cũng nhƣ sự khác biệt trong cách nghĩ của mỗi trẻ em về những điều trẻ nhận thức. Từ những hiểu biết này, Piaget đã thực hiện một nghiên cứu về kinh nghiệm và kiến thức của con ngƣời.
Ông đã dành nhiều thời gian để khám phá những ý tƣởng này. Piaget cho rằng: “Trí thông minh đƣợc định hình bởi kinh nghiệm và trí thông minh đó không phải là một đặc tính nội bộ bẩm sinh mà là một sản phẩm của sự tƣơng tác giữa con ngƣời và môi trƣờng sống của mình” [31]. Quan điểm học cách học từ kinh nghiệm là con đƣờng để học tập và phát triển suốt đời (The Learning Way-Learning from Experience as the Path to Lifelong Learning and Development) của Passarelli, A., Kolb, DA (2011) đã thể hiện rõ trong lý thuyết về học tập dựa vào kinh nghiệm, trải nghiệm. Theo đó, kiến thức đƣợc tạo ra từ kinh nghiệm thông qua một chu kỳ học tập: hành động, phản ánh kinh nghiệm, trừu tƣợng hóa khái niệm, thử nghiệm, vận dụng.
Qua đó, cung cấp một cái nhìn tổng quan về phƣơng thức học tập cũng 15 nhƣ các không gian diễn ra quá trình tổ chức học tập. Trong chu kỳ học tập dựa vào trải nghiệm, các giai đoạn đƣợc liên kết thành một không gian kinh nghiệm để tạo ra một chu kỳ học tập xoắn ốc nhằm thu nhận đƣợc kiến thức mới và phát triển học tập lâu dài.N (1903-1979) [92] ngƣời có công xây dựng lý thuyết hoạt động trong Tâm lý học cũng đã đề cập đến sự kết nối các hoạt động chủ đạo trong quá trình phát triển của trẻ em. Những tƣ tƣởng này của ông có thể vận dụng hiệu quả vào dạy học kết nối ở các cấp học. Từ quan điểm về dạy học của các tác giả thời hiện đại (thể kỉ XX trở lại đây) nhƣ đã nêu cho thấy: các tác giả nghiên cứu về dạy học đã rất chú ý tới việc tạo hứng thú, hiệu quả trong dạy học bằng cách tận dụng, phát huy những kinh nghiệm đã có của ngƣời học, phát huy tính tích cực chủ động của ngƣời học.
Điều đó có nghĩa, trong dạy học, ngƣời dạy phải biết đƣợc ngƣời học đã có kinh nghiệm gì, tránh dạy những cái ngƣời học đã biết để vừa không lãng phí vừa tạo hứng thú cho ngƣời học. Tuy các tác không nhắc tới từ kết nối, nhƣng thực chất đó là những tƣ tƣởng của dạy học kết nối, kết nối những điều ngƣời học đã biết với điều ngƣời học sẽ biết để tạo nên sự liên tục, hệ thống trong kiến thức của của ngƣời học. Các quan điểm cụ thể của các tác giả nêu trên sẽ đƣợc phân tích cụ thể ở mục 1. Những nghiên cứu về dạy học kết nối mầm non với tiểu học Nhƣ phần trên đã trình bày, tuy không gọi tên là dạy học kết nối hiện tại với kinh nghiệm đã có của ngƣời học, nhƣng những nghiên cứu về dạy học cũng đã chú ý đến việc kết nối những kiên thức hiện tại với kinh nghiệm của ngƣời học.
Vì thế, có thể thấy dạy học kết nối cũng đã đƣợc quan tâm khá nhiều. Đây vừa là quan điểm định hƣớng cho dạy học vừa là yêu cầu của dạy học. Điều đó thể hiện ở các nghiên cứu về sự kết nối chƣơng trình giữa các cấp học, các nghiên cứu về phƣơng pháp, kỹ thuật dạy học cụ thể trong đó đảm bảo sự kết nối giữa kiến thức ngƣời học cần học với những kinh nghiệm 16 họ đã có. Để có cơ sở xác định vấn đề cho luận án của mình, đề tài đi thẳng vào một số nghiên cứu cụ thể dƣới đây về ý tƣởng và những nội dung kết nối giữa giáo dục mầm non với lớp 1.
Trong tác phẩm chƣơng trình cho sự chuyển tiếp từ giáo dục mầm non lên GDTH ở Scotllen, ngƣời ta đã khái quát thực tiễn chuyển tiếp giáo dục giữa hai bậc học cơ bản và đầu tiên tại quốc gia này. Tác phẩm xuất phát từ đánh giá các ảnh hƣởng tích cực mà chƣơng trình chuyển tiếp đem lại cũng nhƣ xem xét các thách thức mà chƣơng trình chuyển tiếp phải đối mặt. Đây là các cơ sơ quan trọng để đề xuất các giải pháp phù hợp với quá trình học tập của học sinh. Chƣơng trình chuyển tiếp có vai trò quan trọng, ảnh hƣởng mạnh mẽ đến sự phát triển của trẻ trong tƣơng lai.
Khi quá trình chuyển tiếp đƣợc chú trọng một cách đầy đủ sẽ có nhiều lợi ích.